Loading...

CẢNH ĐẸP THÀNH THĂNG LONG THỜI TÂY SƠN QUA THI CA ĐOÀN NGUYỄN TUẤN (1750- ? )


Chùm thơ Đoàn Nguyễn Tuấn viết về cảnh vật thành Thăng Long, là một tập thơ kiệt tác trong kho tàng văn học chữ Hán nước ta. Tập thơ gồm 28 bài, như 28 vì sao khuê, nhị thập bát tú,  tiếc thay trong Hải Ông Thi tập, nxbKHXH. 1982 chỉ in lại có 23 bài, tôi xin dịch thơ đường luật  hết 23 bài ấy để giới thiệu những hạt ngọc trong thi ca Việt Nam chưa được lưu ý đến.
 
Đoàn Nguyễn Tuấn hiệu là Hải Ông, quê làng Hải An, huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình, là con trai Thám hoa Đoàn Nguyễn Thục (1718-1775) con rễ Quốc lão Nhữ Đình Toản (1703-1774) triều Lê, và là anh vợ thi hào Nguyễn Du (1766-1820).
 
Thuở nho sinh ông kết thân cùng Nguyễn Nể, Phan Huy Ích, Ngô Thời Nhiệm, Vũ Huy Tấn, Ngô Vi Quý, Ninh Tốn, Võ Tá Định, Nguyễn Gia Cát.. và nhóm bạn hữu này về sau nhiều người cùng tham gia giúp triều Tây Sơn.
 
Ông thi đỗ Hương cống đời Lê Cảnh Hưng, nhưng không ra làm quan triều Lê - Trịnh, mà sau đó lại ra làm quan triều Tây Sơn.
Năm 1788 được tiến cử, ông được vua Quang Trung trao chức học sĩ Viện Hàn Lâm cùng một lần với Ngô Vi Quý người làng Tả Thanh Oai.
 
Sau chiến thắng Đống Đa 1789, ông được cùng Nguyễn Nễ (hay Đề) (1745-1805) tiếp sứ bộ nhà Thanh, cùng Nguyễn Nễ. Trong một bài thơ tặng đáp sứ nhà Thanh, ông giới thiệu Nguyễn Nễ là “Đỉnh cao thi trận nước Nam “
 
Mùa hạ năm Canh Tuất (1790) ông được cửđi sứ trong sứ bộ Phan Huy Ích cùng Vũ Huy Tấn, năm đóông tròn 40 tuổi. Sứ bộ gồm 150 người, có vua Quang Trung giả do Phạm Công Trị thay thế, có hoàng tử Nguyễn Quang Thùy, tướng Ngô Văn Sở, một ban hát  10 người, cống phẩm còn có hai con voi đực, cuộc đi sứ  6 tháng 14 ngày, nhà Thanh phải hao tổn 800 000 lạng bạc cho cuộc tiếp rước một sứ bộđông đảo, trang trọng  chưa từng thấy trong lịch sử, vì bình thường các sứ bộ chỉ khoảng 30 người.
 
Sau khi về ông được phong Lại Bộ Tả Thị lang (tương đương với chức Thứ Trưởng Bộ Nội Vụ ngày nay) tước Hải Phái hầu. Năm 1794 ông được lệnh vào Phú Xuân, trước khi lên đường ông có làm thơ xướng họa với bạn bèở Bắc Thành trong đó có Nguyễn Du.
 
Khi Triều đình Tây Sơn quyền hành về tay Thái sư Bùi Đắc Tuyên, xảy ra cuộc biến loạn, quân sư Trần Văn Kỷ bịđày làm lính thúở Hoàng Giang, tướng Vũ Văn Dũng đem quân về giết cha con Bùi Đắc Tuyên và tướng Ngô Văn Sở. Phan Huy Ích thảo chiếu thay vua Cảnh Thịnh giảng hoà hai tướng Vũ Văn Dũng và Trần Quang Diệu. Sau đó Phan Huy Ích lui về cạnh hồ Kim Âu (Bích Câu) mở Bảo Chân quán tu đạo Lão, lập nhà học, Phan Mậu Hiên , Tốn Phong dạy nơi này. Ngô Thời  Nhiệm trở về nhà cũ cũng tại Bích Câu, tu Phậtthành Đại thiền sư Hải Lượng viết Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh được tôn xưng là Trúc Lâm Đệ Tứ tổ. Nguyễn Nểđang giữ chức Hữu Trung Thư, thầy dạy và quân sư cho vua Cảnh Thịnh, phải tìm cách tránh xa Phú Xuân,  xin đi trấn đóng  đất thang mộc Tây Sơn, Quy Nhơn, sau đó được cử làm Chánh Sứđi mừng lễ truyền ngôi vua Càn Long cho vua Gia Khánh, khi trở về lại xin đi xây dựng Phượng Hoàng Trung Đô ở Nghệ An. Còn Đoàn Nguyễn Tuấn lui về Quỳnh Hải làm một ngôi nhà sàn giữa vườn hoa gọi là Phong Nguyệt Sào (Tổ gió trăng) ở đấy để ngâm vịnh tự gọi là Sào Ông, ông ví mình với Sào Phủ. Cùng thời gian này Nguyễn Du cũng ở Quỳnh Hải từ 1797 đến 1802, dạy học, dạy văn dạy võ chiêu tập thủ hạ. Khi vua Gia Long ra Bắc, Nguyễn Du từ Quỳnh Hải đem thủ hạ và lương thực, bò ngựa tiếp rước. Gặp gỡ vua Gia Long tại huyện Phù Dung trấn Sơn Nam. Nguyễn Du được phong Tri huyện nơi này. Sự kiện giống như Phi Tử thời Chiến Quốc dâng ngựa cho vua Hiếu Vương nhà Chu được phong chức Phụ Dung, nước phụ chư hầu, nên Nguyễn Du có danh hiệu là Phi Tử. Nguyễn Hành trong bài Đi Săn có nhắc đến bút danh này.
 
Năm 1803, sau khi vua Gia Long lên ngôi, Ngô Thời Nhiệm, Phan Huy Ích và các quan cộng tác Tây Sơn bịĐặng Trần Thường đem ra đánh tại Văn Miếu, không thấy cóĐoàn Nguyễn Tuấn. Bài thơĐoàn  Nguyễn Tuấn viết năm 1799, Gửi tri âm nơi Viện cũ, Viện Hàn Lâm,  năm 1799 ông viết  “Thu sau, ngựa sẽ trở về làng “. Có lẽ ông đã về hưu trí từ năm 1800, lúc ấy ông mới 50 tuổi. Cuộc đời ông làm quan cho Tây Sơn như thế được 12 năm.  Không có tài liệu nào cho biết ông mất năm nào.
 
Đoàn Nguyễn Tuấn để lại tập thơ duy nhất là Hải Ông thi tập gồm 241 bài gồm 236 bài thơ Đường Luật và 5 bài phú, hành.
 
Tập thơ chữ Hán cuảông là một tuyệt tác trong kho tàng văn chương chữ Hán Việt Nam, cho thấy tác giả làmột người trầm mặc, thanh tao, chân thành, giản dị, yêu quê hương tổ quốc, hình tượng nghệ thuật trong sáng, ít điển tích; câu thơ chải chuốt thanh thoát gợi cảm. Trong những bài đó, có một số vài trực tiếp hay gián tiếp ca ngợi triều đại Tây Sơn, vua Quang Trung và quang cảnh đất nước dưới triều đại mới một cách chân thành và hào hứng ví dụ những bài: Qua Nhị Hà xem doanh lũy cũ của quân Bắc, Sáng sớm ngày 27-11 hạ được thành mừng làm thơ, Đề bức tranh rồng uống nước, Cảnh sắc sau cơn mưa bão, Phụng hầu xa giá nhà vua thân chinh, kính ghi, Trên sông Nguyệt Đức, nhớ xưa, hai bài Đáp vấn..
 
Khi triều Tây Sơn lủng củng thì ông đau buồn , thương tiếc: Thánh hiền sao nước nghìn năm vững. Nhân bạo tồn vong nửa ván cờ. bài Cuối năm tới kinh đô Phú Xuân. (Thánh hiền an đắc thiên niên quốc. Nhân bạo đồng qui bán cực kỳ . bài Thế mạt đáo Xuân kinh)
 
Tiếc thay toàn tập thơ Đoàn Nguyễn Tuấn đều bằng chữ Hán. Trong bài viết này tôi xin chuyển ngữ, dịch thơ theo thể thơ Đường luật nguyên tác, để cho ngày nay chúng ta có thể thưởng thức  23 bài thơ kiệt tác Đoàn Nguyễn Tuấn tả cảnh vật  Thành Thăng Long thời ông sống, những bài thơthuộc dòng văn học Tây Sơn với những đỉnh cao Phan Huy Ích, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Nể, Đoàn Nguyễn Tuấn, Vũ Huy Tấn, Ninh Tốn, Nguyễn Huy Lượng..
 
CỜ THÀNH TRONG NẮNG SỚM : Thành Thăng Long được vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư, xây dựng từ năm 1010. Trước đó là Phủ Tống Bình thời nhà Đường. Năm 866 tướng Cao Biền xây thành Đại La. Năm 1787 nhân chúa Trịnh Bồng bỏ trốn,  vua Lê Chiêu Thống cho người đốt cháy toàn thể cung điện Phủ Chúa Trịnh đã xây dựng trong 243 năm.  Năm 1804 vua Gia Long sai Tổng Trấn Nguyễn Văn Thành phá thành cũ xây thành mới nhỏ hơn.  Cờ thành vẫn nằm trong vị trí cột cờ ngày nay.
 
Công phu xây dựng thay cho máy tạo hóa. Trông cao chót vót vượt hẵn lầu năm cửa. Nơi vua ở có 5 cửa là: Cao môn, Khô môn, Ứng môn, Trĩ môn, Tất môn, trên mỗi cửa có nhà lầu.  Cao vút trăm thước sừng sững chống trời. Trỏ thẳng tầng mây, rực rỡ đỏ vầng dương. Tiến triều mở ra đúng khi gió phất. Bãi triều cuộn lại sương móc cũng vừa  xuống. Muôn năm chiêm ngưỡng, chúc tụng khôn cùng. Ánh dương không tắt ngọn cờ còn mãi.
 
CỜ THÀNH TRONG NẮNG SỚM
 
Xây dựng công phu thay hóa công,
 
Lầu cao năm cửa ngất trời trông,
 
Vút cao trăm thước cột trời chống,
 
Trỏ thẳng tầng mây rực ánh hồng,
 
Triều tiến mở ra khi gió phất,
 
Bãi triều cuộn lại móc vừa lan.
 
Chiêm ngưỡng muôn năm lời chúc tụng,
 
Ánh dương không tắt, ngọn cờ còn.
 
Nguyên tác phiên âm Hán Việt:
 
THÀNH KỲ QUẢI HÚC
 
Kiến tác công phu đại hóa ky,
 
Ngũ môn lâu ngoại vọng nguy nguy.
 
Cao tiêu bách xích kình thiên lập,
 
Trực chỉ trùng tiêu ủng nhật huy.
 
Tiễn cận khai thời phong chính phất.
 
Bãi triều quyển sứ lộ sơ hi.
 
Ức niên chiêm ngưỡng vô cùng tụng,
 
Bất túc dương quang, bất bạt kỳ.
 
TIẾNG TRỐNG BÁO CANH : Trên thành Thăng Long, mỗi khi đồng hồ nước  báo sang canh đều có tiếng trống. Trong cung điện cũng có tiếng chuông, mõ báo giờ giấc. Bài thơ này cho ta biết được cách báo giờ giấc ngày xưa trong thành Thăng Long và cung điện vua khi chưa có đồng hồ Tây Phương. Giờ giấc được báo bằng chiếc hồ đồng khắc 12 vạch, nước chảy nhỏ giọt, đổ nước vào, nước cạn một khắc là một canh.  Một canh ngày xưa là 2 giờ ngày nay. Một ngày có 12 canh, gọi theo 12 con vật tuổi.  Nửa đêm là canh tý, giữa trưa mặt trời đứng bóng là canh ngọ, đêm có năm canh,  gà gáy vào canh năm. Do đó giờ giấc ngày xưa chỉ tương đối, không chính xác như ngày nay.
 
Tiếng pháo đầu xuân, cùng tiếng trời thu. Không dằng dặc như tiếng trống canh trên lầu. Vang hòa chiêng mõ coi việc giờ giấc trong cung. Đánh tan gió sương báo rõ thời khắc trong đêm. Tiếng vượt qua mấy lần thành kinh động tổ nhạn. Âm vang khắp dòng sông Nhĩ Hà vọng đến thuyền chài. Gọi là sông Nhĩ Hà vì sông chảy qua thành Thăng Long như vành tai, nhưng mọi người quen gọi lầm là sông Nhị. Canh tàn ít nhiều gợi nỗi niềm nhớ quê. Lặng  nghe mặt trời nhô lên ngoài song phía đông.
 
TRỐNG BÁO SANG CANH
 
Cùng tiếng trời thu pháo trúc xuân,
 
Mênh mang chẳng giống trống lầu canh.
 
Vang hòa chiêng mõ giờ cung cấm,
 
Tan tác gió sương rõ khắc đêm.
 
Tiếng vượt thanh cao kinh tổ nhạn,
 
Âm vang sông Nhị vọng ngư thuyền,
 
Canh tàn gợi chút niềm quê cũ,
 
Lặng đón vầng đông ánh sáng lên.
 
Nguyên tác phiên âm Hán Việt:
 
LÂU CỔ TRUYỀN CANH
 
Bộc trúc sơ xuân, thiên tại thu,
 
Du du bất tự cổ canh lâu.
 
Minh hòa chính đạc tư cung lậu,
 
Kích toái phong sương báo dạ trù.
 
Thanh quá trùng thành kinh nhạn ổ,
 
Hưởng cùng Nhĩ thủy đối ngư chu.
 
Canh lan đa thiểu hương quan tứ,
 
Thính đắc đông song, nhật xuất đầu.
 
CẢNH DÂM ĐÀM CHUỘI TƠ :  Dâm Đàm, đầm sương mù là một tên khác của Hồ Tây. Có làng Nghi Tàm, do thời Lý nhà vua  Lý Thánh Tông cho, thải bớt số cung nữ trong cung, gã chồng cho ra đây làm nghề nuôi tằm dệt lụa.
 
Sắc nước Dâm Đàm gợn lên lăn tăn.  Đứng trên cầu xem chuội  lụa. Màu thắm hang rồng phô nơi bến lụa. Bến lụa dịch từ chữ ‘luyện chử ‘, mang hai nghĩa bến nước trong sạch như giải lụa trải ra và cũng có nghĩa là bến giặt lụa. Hang rồng dịch nghĩa chữ  ‘long oa ‘. Người xưa cho rằng dưới vùng nước sâu là hang ổ của rồng, Long Cung, cung điện của Thủy Tề Long Vương. Gấm vây bãi Thước, giặt tại ghềnh Ngân. Gềnh Ngân dịch thoát từ chữ hà ky. Trong câu thơ còn có chữ Thước phố, điển mỗi năm tháng bảy, mưa ngâu, Ngưu Lang và Chức Nữ gặp nhau, chim Ô  Thước (quạđen) rụng lông đầu bắc cầu qua sông Ngân Hà, để nàng dệt gấm gặp chàng chăn trâu. Sao Hôm xuất hiện đầu hôm phía Tây Mặt Trời, sao Mai xuất hiện khi về sáng hướng Đông trước khi Mặt Trời mọc. Thật ra hai sao chỉ là một tên gọi Kim Tinh, sao Hỏa, Hy Lạp gọi là Vénus, được nhìn thấy ở hai góc độ khác nhau ; Vénus là vì sao sáng nhất sau Mặt Trời và Mặt Trăng. Tháng bảy trời mây mù, mưa phùn làm gì thấy sao, nhưng người ÁĐông lại tưởng tượng rằng, sao Ngưu Lang và sao Chức Nữ gặp nhau nên khóc thành mưa xuống, rồi lại chia tay. Tầm dâu lẽ sống, mình thường trong sạch ;  ngày xưa khi phụ nữ  thời kỳ có kinh nguyệt không đụng chạm đến tơ tằm. Sấm sét phép lạ mà tay chẳng sần : dịch chữ ‘ tích lịch kỳ phương  ‘, ý nói tiếng đập giũ lụa vang như sấm sét mà tay chẳng chai sần. Chày sương nơi nao lạnh lùng nện trăng. Tiếng chày đâp vải đêm làm ánh trăng lung linh trên bóng nước. Tiếng chuội tơ trên hồđáp lại làm não lòng người.
 
CHUỘI TƠ  DÂM ĐÀM
 
Dâm Đàm  sắc nước gợn lăn tăn,
 
Đứng ngắm bên cầu chuội tơ tằm.
 
Màu thắm hang Rồng phơi bãi lụa,
 
Gấm vây bến Thước giặt ghềnh Ngân.
 
Tằm dâu lẽ sống thân trong sạch,
 
Sấm sét lạ kỳ tay chẳng sần.
 
Vang lạnh chày sương đêm vỗ nguyệt,
 
Chuội tơ tiếng đáp xót xa lòng.
 
Nguyên tác phiên âm Hán Việt:
 
DÂM ĐÀM CÁN TY
 
Dâm đàm thủy sắc chính liên y,
 
Kiều thượng quan hoàn cán trạc thì.
 
Thái triệt long ca phô luyện chữ,
 
Cẩm hồi thước phố dục hà ky.
 
Tầm tang sinh lý tâm thường khiết,
 
Tích lịch kỳ phương thủ bất qui.
 
Hà xứ sương châm hàn đảo nguyệt,
 
Sầu nhân thanh đáp cán hồ ty.
 
CẢNH TRĂNG LAY QUÁN TRẤN VÕ.  Quán Trấn Võ thờ vị VũĐương Nguyên Quân Huyền Thiên Thượng đế, tay cầm bào kiếm, tả hữu có hai tướng Long và Xá chầu. Quán ở thôn An Quang quay ra Hồ Tây. Triều Lý định đô đã lập ra quán này để trấn phương Bắc, đền thờĐạo Lão gọi là quán. Sang triều Lê, Trịnh Tạc cho đúc tượng đồng đen: tượng thân dài 9 thước tây, nặng 6, 6 tấn.
 
Từđỉnh báu hương bay quyện quanh khóm trúc. Dấu thiêng chân nhân trấn giữ cõi Nam. Gương tỏa ánh tuệ in xuống bóng đầm (Hồ Tây). Trăng soi sáng hạt sương đêm, chiếu  lấp lánh ngọn cây. Chày kình, tiếng gõ trên mõ hình con cá kình  luôn khuấy động cõi Thiền tịch diệt. Hồn bướm cứ nhọc nhằn vì mộng đời héo tươi, tích Trang Chu nằm mơ hóa bướm.  Chi bằng một chèo bơi trong gió mát, hát khúc Thương Lương đểđáp lại tiếng chê cười.  Sách Mạnh Tử bài Nhụ tử ca:  Nước sông Thương Lương trong ư ? ta giặt dải mũ ta ! Nước sông Thương Lương đục ư ? Ta rửa chân ta. Tiếng chê cười tích Dương Hùng đời Hán viết bài Giải trào có câu: Hùng đương chép bộ Thái Huyền có kẻ cười Hùng: ’ Lấy huyền dùng bạch’ mà Hùng đối đáp được ngay gọi là giải trào (giải đáp sự chê cười).
 
TRĂNG LAY QUÁN TRẤN VÕ
 
Đỉnh báu  trúc xanh quyện khói hương,
 
Dấu thiêng Trấn Võ giữ Nam cương.
 
Bóng gươm, ánh tuệ in làn nước,
 
Trăng sáng cây rung động  hạt  sương.
 
Khuấy động  chày kình tâm chẳng  tịnh,
 
Nhọc nhằn hồn bướn mộng tàn vương.
 
Chi bằng chèo quế bơi trong gió.
 
Hát khúc Thương Lương, mặc ghét thương.
 
Nguyên tác phiên âm Hán Việt:
 
VŨ QUÁN SAO NGUYệT
 
Bảo đỉnh hương phiêu triện trúc bào,
 
Chân nhân linh tích trấn Nam giao.
 
Kiếm quang ủng tuệ ngưng đàm ảnh,
 
Thiềm phách minh sương hướng thụ sao.
 
Tịch diệt thiên cơ kinh lũ động,
 
Vinh khô thế mộng điệp tần lao.
 
Bất như nhất trạo thanh phong lý,
 
Nhất khúc Thương Lương tự giải trào.
 
CẢNH MÂY  ĐỨNG TRÊN ĐÌNH VĂN. Văn Miếu Quốc Tử Giám được xây dựng từ Triều Lý, nơi đây lúc đầu  các hoàng tử và các con quan từ nhất phẩm đến tứ phẩm ra học, dần dần mở rộng cho mọi sĩ tửưu tú.
 
Khoa danh bao đời còn ghi trong sử sách.  Hãn thanh, ngày xưa khi chưa có giấy, người ta đốt thẻ tre cho chảy mồ hôi, để viết chữ. Nên gọi hãn thanh là sử sách. Qua cuộc biển dâu, đình văn vẫn như xưa. Cửa mở ra đường thập đạp, bay cao mái gác. Song  quyện lấy làn khói bay nhạt kết bình phong. Vách nhà Quốc Tử Giám có nhiều song gỗ chạm thoáng mát, kết hợp với khói như bức bình phong.Ân trạch xưa bồi đắp đất học hành. Kỷ cương mới thêm rạng rỡ sao văn hiến. Dịch chữ Giàn thư tinh: Giản thư chỉ công văn giấy tờ sách vở, ởđây tượng trưng cho nền văn hiến. Ban mai tươi sáng gặp gỡ mây lành. Cả nước trông nhờ: mẫu khuôn đầy đủ.
 
MÂY ĐỌNG ĐÌNH VĂN
 
Bao đời sử sách chép khoa danh,
 
Văn hiến xưa nay vẫn miếu văn.
 
Thập đạo cửa ra cao mái gác,
 
Khói bay song quyện kết bình phong.
 
Đắp bồi ân trạch nơi nhà học,
 
Rạng rỡ kỷ cương bao sách văn.
 
Buổi sáng mây lành mừng gặp gỡ,
 
Trông nhờ cả nước mẫu khuôn hình.
 
Nguyên tác phiên âm Hán Việt:
 
VĂN ĐÌNH TRỮ VĂN
 
Lịch đại khoa danh tự hãn thanh,
 
Thương lang y cựu nhất văn đình.
 
Môn đương thập đạo cao phi các,
 
Song túc phi yên đạm kết bình.
 
Ngọc trạch tích bồi danh giáo địa,
 
Hoàng cương tân bí giản thư tình.
 
Khánh vân tương kiến quang hoa đán
 
Nhất quốc chiêm y cụ điển hình.
 
CA NỮ PHỐ HÒE NHAI, Hòe Nhai tên một phố nay gần phố Hàng Than, các cô đầu phố này được Đoàn Nguyễn Tuấn mô tả là một đặc sắc của thành Thăng Long.
 
Giọng oanh trăm chiều khéo lựa lời ca. Mắt đẹp đáng yêu  thường gợn sóng sông thu. Thu ba : mắt phụ nữ sáng đẹp như sóng mùa thu. Nhà cửa thanh nhã, tay nâng đàn sáo. Dáng đẹp yêu kiều gượng mang gấm vóc. Với vóc dáng kiều diễm, bản thân các cô đầu đãđẹp lắm, cho nên trang phục gấm vóc đối với người đẹp chỉ là sự gượng ép mà thôi,  không phải cần gấm vóc mà vẻđẹp của các cô tăng lên. Tình xuân trăn trở buồn bảđêm trăng. Các cô hát mua vui cho mọi người, nhưng đêm trăng đối diện với lòng mình các cô buồn bả trơ trọi vì không mái ấm gia đình. Điệu cổ thê lương nghẹn ngào sáo trúc. Rung động lòng người nhất là những chốn phong lưu. Một khúc Nam âm thảnh thơi xướng họa. Ngày xưa các cụ phong lưu thi sĩ, có thú vui tao nhã làm thơ Nôm, Hát Nói,  họp các bạn thơ xướng họa, làm thơ;  nhờ các cô đầu hát, đánh đàn, thổi sáo, gõ phách giùm để cùng thưởng thức.
 
CA NỮ PHỐ HÒE NHAI
 
Trăm giọng oanh vang lựa tiếng ca,
 
Yêu làn mắt đẹp ánh thu ba.
 
Thanh tao nhà cửa nâng đàn sáo,
 
Uyển chuyển kiều nương gượng lụa là.
 
Trăn trở tình xuân sầu dưới nguyệt.
 
Thê lương tiếng trống điểm buồn xa.
 
Động lòng người tối phong lưu ấy,
 
Một khúc hát Nam cùng xướng hòa.
 
Nguyên tác phiên âm Hán Việt:
 
HOÈ NHAI CA NỮ
 
Bách chuyển oanh hầu xảo lộng ca,
 
Khả lân mỹ mục quán thu ba.
 
Tiêu sơ lư xá trì ty, trúc.
 
Uyển diễm kiều nương cưỡng ỷ la.
 
Triển chuyển xuân tình sầu dạ nguyệt,
 
Thê lương cổ điệu yết minh già.
 
Động nhân tối thị phong lưu xứ,
 
Nhất khúc Nam âm dật xướng hòa.
 
ĐÊM NƯỚC HỒ GƯƠM ÁNH LÊN SAO BẮC ĐẨU. Bao năm Vua Lê Lợi khởi nghĩa cờ, việt để chiếm lại Đông Đô tức thành Thăng Long. Mao là cờ bạch mao. Việt là cây dáo dài có gắn thêm một lưỡi búa phia dưới. Vua Võ Vương khi chỉ huy quân đánh nhau với vua Trụ nhàÂn, tay tả cầm bạch mao, tay hữu cầm việt, về sau người ta dùng hình ảnh này để  nói quyền chỉ huy nhà vua khi xuất chinh. Rồng đi Lam Sơn, còn kiếm để lại hồ. Vua Lê Thái Tổ linh cửu được đưa về an táng lại lăng tẩm Lam Sơn, Thanh Hóa nơi quê quán nhà vua. Thanh kiếm Thuận Thiên đãđược rùa vàng đớp lấy mang xuống đáy hồ. Lưỡi báu sáng chìm lưỡi gươm ba thước (ta). Vùng sao Ngưu(sao Hôm) trong suốt một doành châu. Điển gươm báu Phong Thành và từ Đẩu Ngưu chi khư trong bài Đằng Vương các tự của Vương Bột. Khi tả sự hùng tráng của quân đội, người xưa thường dùng hình ảnh « Quân ta khí mạnh nuốt Ngưu Đẩu . » Ánh sáng thanh kiếm của quân ta sáng  át cả sao Ngưu, sao Đẩu. Sao Hôm và sao Bắc Đẩu hai vì sao sáng nhất trong bầu trời. Hoa nở  sắc xuân vui mừng vì nhiều phen chiến thắng. Đoàn Nguyễn Tuấn cóý nói đến chiến thắng vua Quang Trung vào mùa xuân năm Kỷ Dậu (1789). Sương rớt tiếng thu dường nỉ non tiếng khóc giặc tù. Cuộc chiến thắng vua Quang Trung bắt được nhiều tù binh. Để nối lại bang giao tất cả đều được trao trả về Trung Quốc. Trải qua bể dâu, hồ vẫn y nguyên. Oai trời còn vẽ bức tranh mây nước. Đoàn Nguyễn Tuấn so sánh cuộc chiến thắng vua Quang Trung  cũng như chiến thắng vua Lê Thái Tổ.
 
HỒ GƯƠM ÁNH LÊN SAO ĐẨU
 
Bao năm cờ việt dẹp Đông Đô.
 
Rồng đến Lam Sơn, kiếm tại hồ.
 
Lưỡi báu sáng chìm gươm ba thước,
 
Sao Ngưu trong suốt một doành châu.
 
Hoa bừng xuân sắc mừng công trận,
 
Sương rớt thu buông khóc tiếng tù.
 
Trải cuộc bể dâu, hồ vẫn thế,
 
Oai trời còn vẽ Thủy Vân đồ.
 
Nguyên tác phiên âm Hán Việt:
 
KIẾM HỒ XẠ ĐẨU
 
Thập niên mao, việt tỉnh Đông Đô.
 
Long khứ Lam Sơn, kiếm tại  hồ.
 
Bảo diệm quang trầm tam xích ngạc,
 
Ngưu khư oánh triệt nhất hoằng châu.
 
Hoa khai xuân sắc hoan trùng khải,
 
Sương lạc thu thanh khốc tặc phù.
 
Thương hải tang điền hồ tự nhược,
 
Thiên uy do họa thủy vân đồ.
 
CẢNH KHÓI TỎA LÀNG BÁT TRÀNG.  Làng Bát Tràng thuộc huyện Gia Lâm ở tả ngạn sông HGồng, nổi tiếng nghề làm đồ gốm, đồ sứ, gạch, ngói.
 
Sông Lô bên trái thành Thăng Long, một tên khác của sông Nhĩ Hà, Nhị Hà, sông Hồng. Sông Lô xuôi về Nam, dòng thăm thẳm mênh mông. Đứng cách bờ sông trông sang làng Bát Tràng mờ mờ. Đồ vật nhà Ngu làm ra, lợi cho việc trao đổi. Nhà Ngu chỉ triều đại vua Thuấn đời thượng cổ Trung Quốc, khi Thuấn còn hàn vi, từng làm nghề nung nặn đồ gốm. Mây nước Sở không cần mưa cũng thường tự bay cao. Mây nước Sở, Đoàn Nguyễn Tuấn đùa: Ý nói có mây mà không có mưa. Mây mưa tích Sở vân Sở vũ. Chuyện vua Sở Hoài Vương đi chơi đầm Vân Mộng chiêm bao thấy thần nữ Vu Sơn đến hầu chăn gối ở Cao Đường,điển tích  từ bài phú của Tống Ngọc thời Chiến Quốc. Tốn Phong trong 31 bài thơ tặng Hồ Xuân Hương có câu thơ cũng đùa: Ướm hỏi Cao Đường ai đoán mộng, Gió mưa đài Sở được bao lần. Hỏi vị quan đoán mộng cho vua Sở Hoài Vương, cóđoán được nhà vua giao hoan với thần nữ Vu Sơn được mấy lần. Mái cong nhà kề sát nhau dọc đê dài. Chỡ đất thuyền buồm về mang theo ánh nắng chiều. Chiếm cả cảnh đẹp trăng gió bốn mùa. Qua lại buôn bán trên sông sóng khói.
 
KHÓI TỎA LÀNG BÁT TRÀNG
 
Dòng Lô thăm thẳm chảy về Nam,
 
Bờ cách, khói lên ngóng Bát Tràng.
 
Ngu Vật làm ra cho mậu dịch.
 
Sở Vân mưa vắng tự bay tràn.
 
Mái cong nhà sát ven đê dọc.
 
Đất chỡ thuyền buồm theo ánh dương.
 
Chiếm cả bốn mùa trăng gió đẹp,
 
Qua lại bán buôn trên khói sương.
 
BÁT TRÀNG LUNG YÊN
 
Lô hà Nam há thủy ương ương,
 
Cách ngạn đê mê vọng Bát Tràng.
 
Ngu khí tựu đào tư mậu dịch,
 
Sở vân vô vũ tự phiêu dương.
 
Phi hoăng tỵ ốc liên trường ngạn,
 
Tải thổ quy phàm quải tịch dương.
 
Chiếm đắc tứ thời phong nguyệt hảo,
 
Yên ba giang thượng vãng lai thương.
 
 
LŨY TRE THÀNH ĐẠI LA : Thành Đại La bao bọc ngoài thành Thăng Long do Cao Biền xây từ cuối thế kỷ thứ VIII , thời Bắc Thuộc. Thời Đoàn Nguyễn Tuấn còn lại mội lũy tre dày.
 
Cây cao, cây  thấp mãi bảo vệ sông núi này. Sừng sững thành Đại La, vết chim hồng còn để lại. Dấu chim hồng dùng  chữ thơ TôĐông Pha bài Dẫn từ hoài cựu :Nhân sinh đáo xứ tri hà tự. Ung tự phi hồng đạp tuyết nê. Cuộc đời giống tựa như gì nhỉ ?  Giống dấu chim hồng trên tuyết rơi. Hình thế kho trời, then khóa chia quyền nắm giữ. Như một đám mây xanh trải khắp lá cành. Khói sương lam soi xuống dòng Lô cả ba tháng xuân. Kèn trại Tế Liễu lay động làn sương suốt năm canh. Tế Liễu là nơi Chu Á Phu đời Tây Hán đóng quân chống Hung Nô quấy rối biên giới; vua Văn Đếđi ủy lạo quân sĩ thấy đồn trại kiên cố, hiệu lệnh nghiêm minh khen: “Thực đáng tài tướng quân.”  Tế Liễu chỉ nơi phòng thủ kiên cố  thành Đại La. Việc đi lại đổi khác, mà thành quách vẫn còn đây. Tiếng quyên khóc, tiếng oanh ca đã mấy lần rồi.
 
LŨY TRE THÀNH ĐẠI LA
 
Cây cao, cây thấp trấn sơn hà,
 
Sừng sững dấu hồng thành Đại La.
 
Hình thế kho trời then khóa giữ,
 
Mây xanh một đám trải la đà.
 
Ba xuân soi bóng Lô giang khói,
 
Năm khắc tiếng kèn Liễu trại đưa.
 
Qua việc người đời thành vẫn thế,
 
Oanh vang, quyên khóc mấy lần ca.
 
Nguyên tác phiên âm Hán Việt:
 
LA THÀNH TRÚC Ổ
 
Cao đê trường thử trấn sơn hà,
 
Hồng trảo di tung ngật Đại La.
 
Thiên phủ hữu tình phân tỏa thược,
 
Thương vân nhất phiến biến điều kha.
 
Tam xuân triện cánh Tô Giang thủy,
 
Ngũ dạ sương minh Tế Liễu già.
 
Sự vãng, nhân phi, thành quách thị,
 
Kỷ hồi quyên khấp, hưu oanh ca.
 
CẢNH RUỘNG HOA LÀNG VÕNG THỊ: Làng Võng Thị tức làng Vóở ngay ven sông. Nơi đây thời Đoàn Nguyễn Tuấn có trồng tám mẫu toàn là hoa, đủ loài hoa lạ. Thời thanh bình khắp các cánh đồng đều trông dâu gai, để nuôi tằm dệt lụa. Nhưng làng Võng Thị lại trồng hoa, là nguồn sống cả làng, hoa nở đầy mặt đất. Tám mẫu ruộng mầu, nhiều chỗ đất thuần. Muôn hoa xuân tới đều trổ bông lạ. Quần phương chỉ mọi loài cỏ hoa thơm. Đời Minh có soạn cuốn Quần phương phả để ghi các loại thảo mộc, hoa lá. Triều đình Huế, tại Duyệt Thị Đường đời Tự Đức có vở tuồng Quần Phương Hiến Thụy gồm 100 hồi, diễn trăm buổi. Vẻ tươi khôn giam nơi u tịch. Ý dùng câu thơ Trường Hận Ca của Bạch Cư Dị: Thiên sinh lệ chất, nam tự khí .(Trời) sinh ra người đẹp đâu chịu bỏ hoài. Hoa tươiđẹp rốt cuộc về nhà giàu sang. Hoa bán cho người giàu sang có tiền mua.  Sẵn có sông Tô Lịch, tiện bề tiêu tưới. Qua đông sương giá, hoa lại nở rỡ ràng.
 
RUỘNG HOA LÀNG VÕNG THỊ
 
Thời bình đồng rợp bóng dâu gai,
 
Nguồn sống dân làng hoa khắp nơi.
 
Tám mẫu ruộng mầu nhiều đất tốt,
 
Muôn hoa xuân tới trổ hoa tươi.
 
Vẽ xinh khôn ở nơi u tịch,
 
Sắc đẹp về nhà phú quý chơi.
 
Sẵn có sông Tô luôn tưới mát,
 
Qua đông sương giá lại càng tươi.
 
VÕNG THỊ HOA ĐIỀN
 
Thời bình, biến dã ế tang ma,
 
Nhất ấp sinh nhai mãn địa hoa.
 
Bát mẫu địa phì đa nõn thổ,
 
Quần phương xuân cập thổ kỳ ba.
 
Thiều tư nan cấm u nhàn địa,
 
Diễm sắc chung qui phú quí gia.
 
Tự hữu Tô giang tư quán tẩm,
 
Hàn sương đông quá, hựu phồn hoa.
 
KHÓA SINH TRƯỜNG GIÁM. Nhà Giám hay Trường Giám, nhà nằm phía sau đình văn, nơi thờ Khổng Tử, các tiên hiền, Chu Văn An trong  Văn Miếu Quốc Tử Giám, nơi đào tạo nhân tài qua các triều đại ngày xưa.
 
Kinh Dịch ở quẻ Thoán nói: “Tổn thượng ích hạ, dân duyệt vô cương, tự thượng há hạ, kỳ đạo đại quang.”Bớt trên thêm cho dưới, dân vui khôn xiết, từ trên xuống dưới đạo rất sáng tỏ. Bọn ta (Nho sĩ) vốn tự có sẵn cội nguồn. Xuân ấm trường xưa quay quần học tập.  Trường xưa (cựu phán), trường học các nước chư hầu gọi là Phán cung. Phán Cung dựng lên ở giữa một cái ao, học trò vòng quanh nghe giảng. Kinh Thi nói: Tư lạc Phán thủy, bạc thác kỳ cần. Nhớ khi vui với nước bên cung Phán thường cùng hái rau cần. Luôn rèn nếp mới : chú trọng luận bàn. Thời Đoàn Nguyễn Tuấn đã không còn chỉ học từ chương, học thuộc lòng, màđã chú trọng luận bàn. Ngỏ hẽm nhiều năm nức tiếng học trò. Sân rồng hẹn ngày đáp lời vua hỏi. Thi Đình tại Triều Đình nhà vua đích thân hỏi các Thí sinh đã đỗ qua khi thi Hương, thi Hội, nhà vua ra đề thi, hỏi thí sinh việc trị quốc. Người  được nhà vua chấm đỗ Tiến sĩ, được ban dĩa vàng, chén ngọc, áo mũ vinh quy bái tổ. Lòng trời muốn mở Hội Văn Minh. Năm canh sao Khuê rực sáng cửa trường. Sao Khuê là một trong hai tám vì sao, chủ văn chương , học hành. Năm 1805 Vua Gia Long cho dựng gác Khuê Văn.
 
KHÓA SINH TRƯỜNG GIÁM
 
Bớt thêm đắp đổi, đạo càng tinh,
 
Vốn sẵn nơi ta tự cội nguồn.
 
Xuân ấm trường xưa cùng học tập,
 
Luyện rèn nếp mới luận bàn văn.
 
Ngõ hẹp nhiều năm vang tiếng học,
 
Sân rồng hẹn đối đáp quân vương.
 
Lòng trời muốn mở văn minh đến,
 
Năm khắc sao Khuê rực cổng trường.
 
GIÁM MÔN KHÓA SĨ
 
Tổn tích tương hồi, đạo dũ tôn,
 
Ngô nhân tố tự hữu uyên nguyên.
 
Xuân dung cựu phán hoàn quan thính,
 
Thời tập tân qui trọng thảo luân.
 
Lậu hạng đa niên phi sĩ vọng,
 
Đại đình chỉ nhật đối vương ngôn.
 
Thiên tâm tương khải văn minh vận,
 
Ngũ dạ Khuê tinh sáng học môn.
 
CẢNH CHÙA CHÂU LÂM SAU CƠN MƯA : Chùa Châu Lâm ở phía Nam Hồ Tây, sau bị phá và chuyển sang Thụy Khuê thành chùa BàĐanh. Sau đó lại sáp nhập với chùa Phúc Lâm.
 
Mưa tạnh nắng bừng, rừng xuyên ánh sáng. Cơ mầu chân thực như thấy lòng trời. Trâu chìm tăm bặt, ánh hồ phẳng lặng. Trâu chìm: tích nhà sư Lý Minh Không đời Lý đi quyên đồng bên nước Tống về, đúc quả chuông lớn (một trong An Nam tứđại khí). Nhưng do dùng toàn thứ đồng mẹ cả, nên khi thử tiếng, trâu vàng (kim ngưu) ở Trung Quốc thuộc về loại đồng con, nghe tiếng đồng mẹ, bỏ chạy thẳng về Nam. Khi tới Hồ Tây tiếng chuông dứt rồi, trâu không biết đi đâu, liền lăn lộn biến thành cái vũng trâu dầm tức là Hồ Tây. Thật sự Hồ Tây có nguồn gốc do một đoạn sông Hồng bị đổi dòng.  Năm 1920 dân ba xã An Phụ, An Quang, Đông An đắp con đường Cổ Ngư ngăn đôi ra, bên Đông gọi là hồ Trúc Bạch, bên Tây vẫn gọi là Hồ Tây. Phượng đi đài trống cỏ xanh um. Ngày xưa chổ khu đất trường Bưởi, Chu Văn An có xây Đài Phượng trên đất gò Mõ Phượng (Phượng Chủy) ở phía Nam Hồ Tây làm chổ hóng mát cho vua chúa. Khói nhẹ trong thôn bay phớt trên mặt nước, Cây xanh trước tháp toả bóng râm trên hoa. Một bầu thế giới sạch làu như rửa. Không  vướng một  nửa hạt bụi đen.
 
CẢNH CHÂU LÂM SAU CƠN MƯA
 
Mưa tạnh nắng bừng rừng sáng tươi,
 
Cơ mầu chân thực thấy lòng trời.
 
Trâu chìm tăm bặt hồ im bóng,
 
Phượng vắng đài không cỏ biếc ngời.
 
Khói nhẹ làng thôn bay mặt nước,
 
Cây xanh trước tháp mát hoa cười.
 
Một bầu thế giới mưa tuôn gội,
 
Chẳng chút bụi trần bám đất trời.
 
Nguyên tác phiên âm Hán Việt:
 
CHÂU LÂM VŨ HẬU
 
Tễ vũ tinh khai tế nhật lâm,
 
Chân cơ hoảng nhược kiến thiên tâm.
 
Ngưu trầm tông dẫn hồ quang tĩnh,
 
Phượng khứ đài không, thảo sắc thâm.
 
Thôn ổ khinh yên phù thủy đạm,
 
Tháp tiền thương thúy lạc hoa âm.
 
Nhất hồ thế giới quang như tẩy,
 
Bất giả truy trần bán điểm xâm.
 
 NÚI TẢN TRONG MÂY. Núi Tản Viên còn có tên Ba Vì, thuộc huyện Ba Vì ngoại thành Hà Nội.
 
Trời tạnh ngắm miền Tây  khí lên ngùn ngụt như hun. Mây trên núi Tản ẩn hiện mơ màng. Ngấn đá ba tầng bao la mờ mịt. Sắc núi lưng trời khí tốt chan chan. Vòng đất xoay vòng thuộc vùng sao Dực, Chẩn. Nước Việt ở vùng thuộc sao Dực, Chẩn. Cột trời phân biệt mạch tự Côn Lôn. Dãy núi Côn Lôn ở phía Tây Trung Quốc gần Tây Tạng, người xưa quan niệm trái đất hình vuông, có núi cao làm trụ chống trời. Sách Hán Thư chép vua Hán Vũ Đế thăm núi Tung Sơn, núi Trung Nhạc chính giữa trong Ngũ Nhạc, bỗng nghe tiếng hô  Vạn Tuế ba lần. người đời cho rằng là thần núi hiển linh.( Văn bản thiếu ba chữ này tôi thêm vào). Lưng đèo Tung Sơn nghe tiếng hô vạn tuế. Vẻ lành khí tốt, điềm vua ta sống lâu.
 
NÚI TẢN TRONG MÂY
 
Quang tạnh trong mây núi ngút ngàn,
 
Mây trên núi Tản hiện mơ màng.
 
Ba tầng ngấn đá bao la bóng,
 
Sắc núi lưng trời khí tốt lan.
 
Vòng đất xoay vòng sao Dực Chẩn,
 
Cột trời phân biệt mạch Côn Lôn.
 
Đèo dội Tung Sơn hô vạn tuế,
 
Vẻ lành khí tốt thọ quân vương.
 
Nguyên tác phiên âm Hán Việt:
 
TẢN LĨNH VÂN GIAN
 
Tây thùy tình vọng uất như huân,
 
Ẩn hiện đê mê Tản Lĩnh vân,
 
Tam cấp thạch ngân hồn ái đãi,
 
Bán không sơn sắc tự nhân uân.
 
Thiên tinh Dực Chẩn khôn duy chuyển,
 
Địa trục Côn Luân kiền trụ phân.
 
Nhai vọng Tung Sơn linh vạn tuế,
 
Tường quang gai khí thọ bang xuân.
 
 BẾN ĐÒ LÀNG SÉT:  Bến đò làng Sét tức làng Thịnh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Ởđây có một cái đầm lớn nhiều cá rô, thịt ngon nổi tiếng: cá rô đầm Sét.
 
Cách thành vài dậm về phía Nam đó là bến Sét. Cây cối xanh tươi vẫn còn nguyên vẻ xuân của bến đò xưa. Nước chỗ  sâu, nông trải phẳng ra ngàn khoảng. Người đi qua lại, tiện lợi nhờ một con đò. Bè quan chín nhịp kéo dây rất gấp. Thuyền chè ba ván, khách được mời uống luôn. Trải bao phong ba, chẳng có gì xảy ra. Lòng đầm như lụa, cỏ tựa như nhung. Bài thơ này cho ta thấy một cách di chuyển qua sông của các quan ngày xưa,  bến Sét có bè chín nhịp dùng cho quan, có dây kéo qua sông cho nhanh. Có thuyền chè khách lên thuyền được mời uống chè.
 
BẾN ĐÒ LÀNG SÉT
 
Vài dặm thành Nam bến Sét trông,
 
Bến đò muôn thuở vẻ xuân xanh.
 
Chổ sâu nông trải ra nghìn khoảng,
 
Qua lại người đi, đò bến sông.
 
Bè quan chín nhịp dây mau kéo,
 
Thuyền chè ba ván uống trà nhanh.
 
Giang hồ bao quản người vô sự,
 
Như lụa lòng đầm, cỏ tựa nhung.
 
Nguyên tác phiên âm Hán Việt:
 
LIệT TÂN DÃ ĐỘ
 
Thành Nam số lý Liệt đàm tân,
 
Phương thụ y y cổ độ xuân,
 
Thiên khoảnh bình phô thâm thiển thủy,
 
Nhất chu lợi thiệp vãng lai nhân.
 
Cửu kiều quan phiệt khiên thằng cấp,
 
Tam bản trà thuyển ẩm khách tân.
 
Kỷ độ phong ba hồn bất phạ,
 
Đàm tâm như luyện, thảo như nhân.
 
VÓ CÂU Ở BẾN NHẬT CHIÊU.  Bến Nhật Chiêu ở bên sông Hồng, thuộc huyện Vĩnh Thuận, phía Bắc thành Thăng Long, nay là bến Nhật Tân (Từ Liêm). Ngày xưa bên bờ sông có nhiều vóđánh cá, một tấm lưới vuông rộng đáy thụng, treo trên một cần dây dài, gốc cột đá làm đòn bẩy. Vó  thả xuống nước sông, người  chài cá từ chòi sàn nổi trên sông, kéo lên, cá rơi vào giữa chổ thụng, người chài cáđi thuyền, dùng  vợt vớt cá lên. Vó câu cá được các  nhiếp ảnh gia Việt Nam chụp hình nhiều ảnh đẹp thế kỷ rồi, ngày naykhông cònthấy trên các sông.
 
Sinh ở thị thành, lại làm nghề cá. Gió mát trăng thanh bạn cùng nhà nổi. Sóng mây nửa sông, ngàn tầm xanh biếc. Cần dây trăm thước, một thuyền nhẹ tênh. Đông Bộ cát phẳng ngắm; cảnh trai cò;Đông Bộ Đầu một bến phía Bắc Thăng Long nơi chiến thắng Nguyên Mông năm 1258. Truyện ngụ ngôn TôĐại (em Tô Tần) nói với vua Triệu: “ Trai mở miệng phơi nắng trên bãi cát, cò thò mổ ruột trai, trai kẹp lấy mỏ cò, rồi giằnnhau không con nào tự buông trước : giữ nhau mãi, đến khi có người đánh cáđi qua, vớ được cả cò lẫn trai.” Tang Châu ngập hết bạn cùng tôm cá. Tang Châu là một bãi giữa dòng Nhị Hà, cũng còn gọi là Tàm Xá Châu. Bài Tiền Xích Bích của TôĐông Pha có câu: Lữ ngư hà nhi hữu mi lộc. (bầu bạn với tôm cá và hươu nai). Sông hồ man mác người thật an nhàn.
 
VÓ CÂU CÁ BẾN NHẬT CHIÊU
 
Thị thành nghề nghiệp cá sinh nhai,
 
Gió mát trăng thanh sống nổi trôi.
 
Khói sóng nửa sông xanh mắt biếc,
 
Cần dây trăm thước một thuyền chài.
 
Đông Bộ bãi bờ cò trai ngắm,
 
Tang Châu nước ngập cá tôm vui.
 
Sông hồ man mác người nhàn rỗi,
 
Đổi rượu cơm rau về nhắm chơi.
 
Nguyên tác phiên âm Hán Việt:
 
CHIÊU CHỮ NGƯ CAN
 
Thành thị sinh nhai cánh nghiệp ngư,
 
Thanh phong minh nguyệt bạn phù cư.
 
Bán giang yên lãng thiên tầm bích,
 
Bách xích ti can nhất diệp hư.
 
Đông Bộ sa bình khan bạng duật,
 
Tang châu lao tận lữ hà ngư.
 
Giang hồ quảng mạc nhân vô sự,
 
Hoán tửu qui lai thả phạn sơ.
 
GƯƠNG NƯỚC KIM ÂU :  Hồ Kim Âu xưa ở quảng phố Nguyễn Thái Học nay không còn nữa, chỉ còn lại Hồ Giám trước Văn Miếu. Trên hồ Kim Âu có chùa Phật Tích và tháp, trên có lầu Vọng Tiên. Nơi đây còn có dinh Kim Âu do cụ Nguyễn Nghiễm xây dựng, thi hào Nguyễn Du sinh ra và lớn lên nơi này. Cuối thời Trịnh năm 1784 dinh Kim Âu bị bọn kiêu binh phá tan, nhân vụán Thượng Thư Bộ Lại Nguyễn Khản xử chém 7 kiêu binh.  Đốc học Sơn Nam, Thước Kiều Trần Đạo Chân (Trần Văn Trứ) trong tập thơ Thăng Long tam thập vịnh cũng có bài Kim Âu thủy giám.  Khi triều đình Tây Sơn suy tàn các danh tướng đánh nhau. Phan Huy Ích về mở Bảo Chân Quán tu đạo Lão,  mở nhà học nơi này và viết Cúc Thu Bách Vịnh. Ngô Thì Nhậm thành Hải Lượng Đại Thiền sư viết Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh cũng gần đó, được xưng tụng là Trúc Lâm đệ tứ tổ..
 
Màu ngọc biếc lan tới tháp Phật, lầu Tiên. Hồ như gương, một làn nước sâu thăm thẳm. Tròn ngậm trời thu, mở ra hộp sáng ; Ánh sang lắng dòng trong, thấy bóng non xanh. Khi vầng đông mới lên, sóng hồ như vẩy ngọc tan. Lúc ráng chiều buông xuống, mặt hồ nhìn tựa như rây vàng. Chuyện cũ một đời người cần chi hỏi đến.Chỉ đợi trăng soi xuống làng trước mặt.
 
GƯƠNG NƯỚC KIM ÂU
 
Tháp Phật lầu tiên biếc ngọc lan,
 
Hồ gương làn nước thẳm mênh mang.
 
Trời thu tròn ngậm gương trong sáng,
 
Nắng đọng dòng trong soi bóng xanh.
 
Ánh sáng vầng đông hồ vẩy ngọc,
 
Ráng hồng chiều xuống rắc rây vàng.
 
Chuyện cũ người đời chi hỏi đến,
 
Chỉ đợi vầng trăng trải xóm làng.
 
Nguyên tác phiên âm Hán Việt:
 
KIM ÂU THỦY GIÁM
 
Phật tháp tiên lâu bích ngọc xâm,
 
Giám hồ nhất thủy tự thâm thâm.
 
Viên hàm thu thự khai minh hạp,
 
Quang trạm thanh lưu hiện bích sầm.
 
Triêu húc sơ thăng lân toái ngọc;
 
Lạc hà vãn chiếu ảnh sư kim.
 
Nhất sinh cố sự hà tu vấn,
 
Trực đãi tiền thôn nguyệt nhất lâm.
 
LÒ ĐÚC TIỀN HỒ TRÚC BẠCH : Cạnh Hồ Trúc Bạch, có làng Ngũ Xã là nơi nổi tiếng về nghềđúc đồng, thờ tổ nghềđúc đồng  thiền sư nhà Lý :  Nguyễn Minh Không, ngày xưa có lòđúc tiền của các triều đại.
 
Trên cửu trùng (nhà vua) tính kế cho dân đầy đủ. Đồng tiền lưu thông trong nước từ lò Trúc Bạch. Người trên đầu cầu gọi than đưa tới. Lửa từ trên cát tung đàn ve bay. Đàn ve dịch chữ phù trong bài thơ. Sách Dậu Dương tạp trở chép : Con thanh phù hình dáng giống hệt như con ve nhưng lớn hơn. Lưu Thần Ký còn chép : Ở phương Nam có giống sâu tên là thanh phù lớn như con tằm, bắt được con nó thì mẹ nó lập tức bay đến, lấy máu mẹ nó bôi vào tiền được 81 đồng, lấy máu con nó bôi vào tiền được 81 đồng. Mỗi khi mua hàng hoạc dùng tiền mẹ trước, hoặc dùng tiền con trước, tiền đi xa đều  lại trở về, cứ luân chuyển mãi không thôi. Đời sau nhân điển cố này nên mới gọi đồng tiền là thanh phù. Lớp lớp khói phủ lên chùa Châu Long (gần chợ Châu Long ngày nay). Mênh mông suối chảy vào hồ Cổ Ngựa.( Ở vùng Hàng Than ngày nay). Năm tháng vuông tròn, thuế công nạp đủ. Lưng đeo tiền hà tất phải lên Dương Châu. Ngày xưa tiền đồng có lổ, xỏ thành xâu, mang trên lưng. Phúông đi chợ có hầu tớ vác tiền giùm. Lính tráng thì lương « ba cọc ba đồng », phát tiền sắp trên ba cây cọc nhỏ, ba cây cọc là ba đồng. Dương Châu tích từ Thương Nghệ tiểu thuyết chép : Có bốn người khách chơi với nhau, mỗi người đều nói lên chí nguyện mình. Người thứ nhất nói : Muốn làm quan Thứ sử đất Châu Dương. Người thứ hai nói : Muốn có nhiều tiền. Người thứ ba nói : Muốn cỡi hạc bay lên trời ! Ngươi thứ tư nói : Muốn đeo trên lưng 10 vạn quan tiền, rồi cỡi hạc bay tới Châu Dương làm Thứ sử. (Gồm cảý nguyện ba người trên). Ý câu thơ nói lên tác dụng của đồng tiền rất lớn, nếu ai có tiền thì có thể thỏa mãn ý muốn.
 
LÒ ĐÚC TIỀN HỒ TRÚC BẠCH
 
Cửu trùng tính kế đủ cho dân,
 
Trúc Bạch lưu thông tiền đúc đồng.
 
Người gọi đầu cầu than tới bến,
 
Lửa soi trên cát đàn ve tung.
 
Châu Long lớp lớp chùa lên khói,
 
Cổ Ngựa mênh mông hồ nước tuôn.
 
Năm tháng vuông tròn công thuế nạp,
 
Lưng tiền hà tất đến Châu Dương.
 
Nguyên tác phiên âm Hán Việt :
 
TRÚC BẠCH TIỀN LÔ
 
Cửu trùng cận niệm dụ dân đồ,
 
Tiền hóa lưu thông Trúc Bạch lô.
 
Nhân tại kiều đầu hô tống thán,
 
Hỏa tòng sa thượng xuất phi phù.
 
Tằng tằng yên trảo Long Châu tự,
 
Hạo hạo tuyền lưu Mã Cảnh hồ.
 
Tuế nguyệt phương viên công khóa túc,
 
Yêu chiền hà tất thướng Dương Châu.
 
RƯỢU SEN PHƯỜNG THỤY KHUÊ:   Làng Thụy Khuê ngày xưa là nơi sản xuất rượu sen để tiến vua.  Thi Xã đời Vĩnh Hựu nhà Lê, trong Tám cảnh đẹp Tây Hồ có bài Pho tượng Phật say làng Thụy. Thật thú vị người nghệ nhân tạc tượng Phật say không phải là vô tình  điêu khắc sai, mà cốý tạc tượng Phật say chống gậy nghiêng ngã, mặc dù uống rượu là một giới cấm nhà Phật, vì làng Thụy Khuê là nơi sản xuất  rượu sen nổi tiếng.
 
Đất kề Hồ Tây là nơị sản xuất rượu tiến cống,(dâng lên vua). Tiến cống dịch thoát chữ  ‘cộng cửu thiên’; Cộng cửu theo Thư Tự là một thiên mở đầu của Thượng Thư, Phục Sinh nhà Hán cho Cộng cửu là một bộ phận trình bày về sự tiến cống sản vật quý của chư hầu, đối với thiên tử. Ởđây nói Thụy Khuê là nơi sản xuất rượu sen để tiến vua. Ngon thay rượu Thụy là tiên trong làng rượu. Rượu cốt cất nấu xong chứa đầy ngàn chum. Xôi đồ thơm phúc toả thơm muôn hộc. Yêu loài hoa cúc muốn tiêu khiển cái hứng Bành Trạch. Bành Trạch là tên huyện thuộc tỉnh Giang Tây thời Tấn Đào Tiềm đến làm quan lệnh. Sau ông chán cảnh quan lại, về nhà vui với tùng cúc.  Đời quý trọng phẩm chất cao thượng của ông gọi ông làĐào Bành Trạch. Say rượu thù du bàn chuyện suông về thơ Đỗ Lăng. Thù du tên một giống cây có quả nhỏ thơm làm thuốc, hay ngâm với rượu gọi là rượu thù du. Tục Tề Hài Ký chép:  “Hoàn Cảnh theo Phi Trường Phòng học đạo. Sai nghe Phòng khuyên, ngày 9 tháng 9 cả nhà lên núi, tay mỗi người cóđeo một túi thù du và uống rượu cúc. Tới khi  trở về nhà thì gia súc bị cướp giết chết hết. Thế là thoát nạn, của đi thay người.”  Đỗ Lăng chỉ Đỗ Phủ nhà thơ lớn đời Đường có câu thơ đề ngày Trùng cứu: Minh niên thử hội tri thùy kiện, Túy bả thù du tử tế khan. Sang năm hội ấy ai là mạnh, Say bốc thù du ngẫm kỹ xem. Tiễn người chớ có làm rượu Đồ Tô. Rượu Đồ Tô tương truyền là phương thuốc của Hoa Đà, uống vào ngày Nguyên Đán để trừ tà khí. Quý trọng Thanh Liên thì cho đầu gậy sẵn tiền.Thanh Liên là tên làng và bút hiệu của Lý Bạch đời Đường. Ông bị các nịnh thần ghen ghét đuổi khỏi triều đình, vua Đường Minh Hoàng thương tài ban cho thẻ bốn chữ treo đầu gậy: “Đáo xứ hữu tiền”(Tới xứ nào thì xứđó cấp tiền). Vì vậy khi ông khát rượu, quan địa phương phải trích tiền công cấp cho ông mua rượu uống.
 
RƯỢU SEN PHƯỜNG THỤY KHUÊ
 
Kề đất Tây Hồ nơi tiến cống,
 
Ngon thay rượu Thụy vốn làng Tiên.
 
Nấu xong rượu cốt ngàn chum chứa,
 
Thơm phức xôi đồ muôn hộc thơm.
 
Yêu cúc thú vui Bành Trạch hứng,
 
Say thơ thù tạc Đỗ Lăng bàn.
 
Tiễn người chớ uống Đồ Tô tửu,
 
Đầu gậy Thanh Liên tiền sẵn mang.
 
Nguyên tác phiên âm Hán Việt:
 
THỤY PHƯỜNG LIÊN TỬU
 
Địa tiếp Tây Hồ cộng cửu thiên,
 
Giai tai Thụy tửu, tửu trung tiên.
 
Đề hồ nhương tựu thiên chung mãn;
 
Chưng đạo hương khai vạn hộc chiền.
 
Ái cúc dục tiêu Bành Trạch hứng;
 
Túy thù hư thuyết Đỗ Lăng thiên.
 
Tống nhân mục tác đồ tô nhượng,
 
Trân trọng Thanh Liên trượng hữu tiền.
 
CẢNH NGỰA UỐNG NƯỚC SÔNG TÔ LỊCH : Tô Lịch là dòng sông xưa chảy trong địa phận Hà Nội qua các huyện Thanh Xuân, Hoàng Mai, và là một cạnh hào thành trong bốn hào bào bọc thành Thăng Long. Tô Lịch là tên một vị thần đời Tấn đô hộ Giao Chỉ. Là phụ lưu sông Hồng đưa nước sông Hồng sang sông Nhuệ đến đoạn trung lưu gặp Hồ Tây. Nhiều đoạn sông bị lấp, sông trở thành một ống cống lộ thiên  chứa nước thải. Hiện nay có dựán làm sạch và làm sống lại sông Tô Lịch.
 
Thời xưa Tô Lịch là nơi ngựa uống nước. Cảnh ngựa uống nước sông Tô Lịch được Đoàn Nguyễn Tuấn ca ngợi : Non sông hùng tráng trấn giữ nước Nam. Có truyền thuyết thần Long Đỗ (Núi Nùng) và thần Tô Lịch là một, từng phá bùa trấn yểm của Cao Biền đời nhà Đường sang đô hộ. Dòng sông Tô uốn quanh là sông ngựa uống nước. Tung tăng dưới khe, con cá con tôm thảy đều biết hết. Cúi xuống uống nước bóng ngựa Ký, ngựa Kỳ một hóa thành đôi. Ký,  Kỳ là ngựa quý thiên lý mã chạy ngàn dậm. Cỏ sắc bên thành tưởng rồng biến hóa. Im trong tiếng gió mặt nước mênh mang. Đời thánh mừng nay không phải dụng võ. Bài thơ có lẽ viết sau chiến thắng lẫy lừng vua Quang Trung, oai lừng bốn bể, triều nhà Thanh nối lại bang giao, anh hùng từ nay không phải dùng võ nữa. Thiên hạđã bình trị rồi không phải dùng đến binh đao. Trở về thủng thỉnh dạo qua song  cửa.
 
NGỰA UỐNG NƯỚC SÔNG TÔ
 
Non sông hùng tráng giữ trời Nam,
 
Ngựa uống sông Tô khúc uốn quanh.
 
Tôm cá dưới khe đà biết hết,
 
Ký kỳ soi bóng hóa đôi thành.
 
Bên thành cỏ sắc như rồng hóa,
 
Trong gió dòng im mặt nước tràn.
 
Đời thánh nên mừng không dụng võ,
 
Thong dong về bước dạo qua song.
 
Nguyên tác phiên âm Hán Việt:
 
TÔ GIANG ẨM MÃ
 
Sơn hà tráng nhĩ điện Nam bang,
 
Tô phái oanh hồi ẩm mã giang.
 
Túng hác ngư hà danh thức lịch,
 
Lâm lưu kỳ ký ảnh thành song.
 
Thành biên hữu sắc nghi long hóa.
 
Phong tế vô thanh nhậm thủy băng.
 
Thánh đại hân kim vô dụng vũ,
 
Quy lai nhàn bộ quá sa song.
 
CẢNH CHĂN TRÂU Ở LINH ĐỘNG :  Linh Động là khu vực chùa Linh Quang, phường Thanh Liệt quận Đống Đa. Đời vua Lê Thánh Tông (1460-1497) làng Báo Thiên  đào được một tượng Phật Bà Quan Âm bằng đá, dân làng lập chùa thờ, cầu được nhiều sự linh thiêng, nên còn gọi là chùa BàĐá. Chùa có bia xây dựng có chữ Bát Nhã Thiền năm 1725.
 
Chăn trâu nhà ai chiếm được đất thiêng. Đồng ruộng thong thả sức người cày. Vó nhàn chẳng thả ra đồng Đào Lâm . Kinh Thư thiên Vũ Thành có câu « Phóng ngưu vu Đào Lâm chi dã . » Thả trâu ra cánh đồng Đào Lâm (ở Thiểm Tây Trung Quốc) Võ Xương nhàChu sau khi thắng giặc bèn thả trâu ởĐào Lâm, mà không phải dùng việc vận tải quân sự nữa. Cỏ tốt thường vui nơi sân Bát Nhã. Do Kinh Bát Nhã Ba La Mật, ý chỉ chùa chiền. Của nhiều, chẳng cần phiền lòng Thừa tướng nhà Hán. Do tích Bính Cát, Thừa tướng nhà Hán khi ra đường gặp vụđánh nhau chết người không hỏi, nhưng khi gặp người đuổi trâu lồng thì dừng lại hỏi. Người hầu lấy làm lạ hỏi duyên cớ. Bính Cát đáp : «  Trời chưa nóng lắm thấy trâu thở hồng hộc, sự trái đạo âm dương (trái thời tiết) nên hỏi. » Người giỏi, đâu phải đợi mượn quan khanh nước Tề.Điển tích  Ninh Thích chăn trâu, gõ sừng trâu mà hát bài Mục Ca, được Tề Hoàn Công triệu vào cho làm quan Khanh nước Tề. Hứng nhàn nói chung, thật là khó vẽ. Vì vẽ trâu sai ai cũng biết, chứ không như vẽ rồng vẽ lân, vẽ sai chẳng ai biết. Tiếng hát gõ sừng trâu véo von trước gió.
 
CHĂN TRÂU Ở LINH ĐỘNG
 
Chăn trâu ai chiếm đất nhà thiêng,
 
Đồng ruộng thong dong thỏa sức riêng.
 
Chẳng thả Đào Lâm khi tản việc,
 
Vui nơi Bát Nhã cỏ tươi sân.
 
Của vật chẳng phiền đời Hán Tướng,
 
Nhân tài đâu đợi mượn Tề Khanh.
 
Hứng nhàn muốn vẽ nên là khó,
 
Trước gió gõ sừng hát véo von.
 
Nguyên tác phiên âm Hán Việt:
 
LINH ĐỘNG PHẠN NGƯU
 
Ngưu phạn thùy gia chiếm địa linh
 
Hiêu hiêu quyến mẫu nhiệm nhân canh.
 
Nhàn đê bất phóng Đào Lâm dã,
 
Phong thảo thường ngu Bát Nhã đình.
 
Vật phụ bất phiền ưu Hán tướng,
 
Nhân tài hà đãi tá Tề Khanh .
 
Nhất ban dật hứng thành nan họa,
 
Liêu lượng phong tiền khấu giác thanh.
 
NGỌN ĐÈN TRUNG THU PHƯỜNG HÀ KHẨU : Hà Khẩu là phố Hàng Buồm. nơi đây bán đèn Trung Thu làm đủ hình chim, cá, rồng, phượng.. màu sắc đẹp đẽ. Thu đến Hà Khẩu chơi đèn Trung thu. Một khắc ngàn vàng mua cũng mua. Phố khách vừa vặn gặp đúng đêm rằm. Hoa bạc chiếu sáng một bầu trời băng giá. Dịch chữ ngân hoa chỉ ngọn đèn, do câu: “Hỏa thụ ngân hoa hợp.”(Cây lửa góp lại thành hoa bạc) của Tô VịĐạo đời Đường. Núi sông không đêm, khêu gợi hứng thơ. Trung thu thắp đèn sáng cảđêm như ban ngày. Gió trăng bao la sánh cùng bạn rượu. Chớ coi đó là ngọn đèn tầm thường. Mừng cóđuốc ngọc,  điềm thái bình, thời tiết thuận hòa. Ngọc chúc, đuốc ngọc theo giải thích Nhĩ Nhã Thi thì bốn mùa điều hòa làđuốc ngọc. Đời sau cho là đức độ nhà vua đẹp như ngọc và sáng nhưđuốc nên gọi làđuốc ngọc. Bài này cho thấy Đoàn Nguyễn Tuấn cóý ca tụng đức độ và tài năng vua Quang Trung thời thanh bình sau chiến thắng quân Thanh, bác bỏđoạn gia phả họ Nguyễn Tiên  Điền của Nguyễn Y viết cho rằng Đoàn Nguyễn Tuấn hợp với Nguyễn Du chống Tây Sơn.
 
NGỌN ĐÈN THU PHƯỜNG HÀ KHẨU
 
Thu sang Hà Khẩu đèn Trung thu,
 
Một khắc ngàn vàng cũng muốn mua.
 
Khách đến gặp đêm rằm tháng bảy,
 
Ngân hoa chiếu sáng giá băng hồ.
 
Không đêm sông núi gieo thi hứng,
 
Trăng gió bao la sánh rượu bầu,
 
Chớ thấy tầm thường đèn chiếu sáng,
 
Thái bình đuốc ngọc  thuận ôn hòa.
 
Nguyên tác phiên âm Hán Việt:
 
HÀ KHẨU THU ĐĂNG
 
Thu lai, Hà Khẩu thưởng thu đăng,
 
Nhất khắc thiên kim mãi bất năng.
 
Khách phố cáp phùng  tam ngũ dạ,
 
Ngân hoa quang chiếu nhất hồ băng.
 
Giang sơn bất dạ khêu thi hứng,
 
Phong nguyệt vô biên đối tửu bằng.
 
Mạc bả tầm thường đăng biểu khán,
 
Thời điều ngọc chúc hỉ bình trưng.
 
TIẾNG MÕ GÁT ĐÊM ĐỒN THỦY:  Đồn Thủy xưa là trại Thủy Quân, đường bờ sông Hà Nội ở khu vực bệnh viện Liên Xô. Chim hót, thông reo, màn đêm đã tối. Xa nghe mỏ canh ở đồn Thủy quân. Trại đặt mấy lần cửa, dựa bên dòng sông. Kinh Dịch, Hệ Từ nói: “Trùng môn kích thác, di đãi bạo khách cái thủ chư Dự.” nghĩa là : Mất lần cửa khua tiếng mõ đề phòng kẻ trộm là theo hình tượng quẻ Dự. Tiếng trống truyền canh năm, vang cùng tù và. Vang thấu sóng xanh, quá bến đò này. Đánh tan đêm tối, nâng mặt trời sớm. Tiếng ấy truyền vào tận tai khách thơ. Khi trăng đầy lầu cao, rượu đầy vò. Nguyễn Du trong thơ chữ Hán có bài thơđùa Đại nhân hý bút, tả cảnh nhà cao cửa rộng lầu cao của Đoàn Nguyễn Tuấn khi ra làm quan Tây Sơn. “Trên bờ sông Nhị nhà chen gần. Đã chiếm cả thành hết cảnh Xuân.  Lầu gác đông tây cao ngất dựng.. Rượu quý lầu son khướt chén quỳnh”.Bài thơ Nguyễn Du phù hợp với câu thơ này của Đoàn Nguyễn Tuấn.
 
TIẾNG MỎ GÁT ĐÊM  ĐỒN THỦY
 
Chim hót thông reo đêm tối buông,
 
Mỏ canh Đồn Thủy tiếng xa dồn.
 
Mấy lần cửa trại bên sông dựa,
 
Tiếng trống năm canh ốc vọng vang.
 
Vang thấu sông xanh qua bến ấy,
 
Đánh tan đêm tối mặt trời lên.
 
Tận tai thi khách vang vang tiếng,
 
Trăng sáng lầu cao vò rượu tràn.
 
Nguyên tác phiên âm Hán Việt:
 
THỦY ĐỒN DẠ THÁC
 
Điểu ngữ, tùng minh, dạ sắc hôn,
 
Giao văn kích thác Thủy quân đồn.
 
Trùng môn thiết trại y giang bạng,
 
Ngũ cổ truyền canh cộng giác huyên.
 
Hưởng triệt thương lương qua thử độ,
 
Xao tàn hắc ám ủng triêu đôn.
 
Tư thanh chuyển nhập tao nhân nhĩ,
 
Nguyệt mãn cao lâu tửu mãn tôn.
 
CẢNH BAN ĐÊM QUA SÔNG NHĨ HÀ:  Được lệnh phải lên đường đi sứ gấp mùa hạ năm 1790đưa vua Quang Trung giả cùng Hoàng tử Nguyễn Quang Thùy, Ngô Văn Sở,  Phan Huy Ích, Vũ Huy Tấn .. Áo cũ ngựa gầy ở góc sông Nhị. Thành quách lờ mờ trong sương mù xanh. Làng quê thăm thẳm dưới làn mây trắng. Lòng hăng hái mới thử qua sông ngàn khoảnh sóng dồi. Ý biệt ly còn say với nửa chén rượu tiễn. Rất đỗi đoạn trường không sao ngăn được. Là khi đuốc hồng lung linh qua sông. Hai câu chót ghi một xúc cảm thật tuyệt tác.
 
BAN ĐÊM QUA SÔNG NHĨ HÀ
 
Trong đêm giục giã đường hoàng hoa,
 
Áo cũ,  ngựa gầy qua Nhĩ Hà.
 
Thành quách mơ hồ sương biếc tỏa,
 
Làng quê thăm thẳm trắng mây xa.
 
Lòng hăng hái thử qua ngàn sóng,
 
Ý biệt còn say nửa chén ngà.
 
Rất đổi đoạn trường không cản được.
 
Là khi đuốc sáng lung linh qua.
 
Nguyên tác phiên âm Hán Việt :
 
DẠ ĐỘ NHĨ HÀ
 
Hoàng hoa hữu mệnh dạ tương thôi,
 
Tệ cát, luy câu Nhĩ thủy di.
 
Thành quách mơ hồ, thanh vụ lý,
 
Gia hương phiếu diểu bạch vân đôi.
 
Tráng tâm sơ thỉ ba thiên khoảnh,
 
Biệt tứ do hàm tửu bán bôi.
 
Tối thị bất câm trường đoạn xứ,
 
Chúc hồng dao duệ quá giang lai.
 
Đoàn Nguyễn Tuấn là một Thi Tướng trong làng Thi Ca Việt Nam khi đi sứ. Thơông được chép lưu truyền trên Lầu Hoàng Hạc. Đoàn Nguyễn Tuấn không hổ danh nước Nam khi thi thố thi ca cùng các quan Trung Quốc, Triều Tiên. 28 bài thơ Yên Đài Thu Vịnh, Vịnh cảnh mùa thu Bắc Kinh, các thi tướng Trung Quốc cũng khâm phục. Trong kho tàng văn chương chữ Hán nước ta, Hải Ông Thi Tập của Đoàn Nguyễn Tuấn có một vị trí trang trọng, mặc dùông luôn luôn khiêm nhường mình chỉ là một người Khách Biển(Hải Khách, Hải Ông). ThơĐoàn Nguyễn Tuấn tả cảnh vật Thành Thăng Long tuyệt đẹp, chứng tỏ tài năng một nhà thơ lớn trong dòng văn học thời Tây Sơn.
 
TÀI LIÊU THAM KHẢO:
 
ĐOÀN NGUYỄN TUẤN. Hải Ông Thi Tập. Viện Hán Nôm. Nxb KHXH; Hà Nội 1982.
 
Tinh Tuyển Văn Học Việt Nam. Văn Học Thế kỷ XVIII. tập 5 quyển 2. Nxb KHXH. Hà Nội 2004
 
PHẠM TRỌNG CHÁNH
 
 

Nghiên cứu thảo luận

Tham quan ảo 3D

Thư viện phim tư liệu

Bộ đếm lượt truy cập

web counter html code

Liên kết Website