Loading...

Thử bàn về giấc mộng trong thơ chữ Hán Nguyễn Du (Thông qua khảo sát các yếu tố ngôn ngữ)


1. Về ba tập thơ chữ Hán Nguyễn Du
 
Thơ chữ Hán Nguyễn Du được sáng tác liên tục trong một thời gian dài từ năm nhà thơ 21 tuổi (1786) cho đến năm nhà thơ 49 tuổi (1814), trước lúc chết năm năm. Ba tập thơ chữ Hán của ông là: Thanh Hiên thi tập (Thanh Hiên tiền hậu tập), Nam Trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục.
 
Mỗi tập thơ được viết trong một khoảng thời gian nhất định và nội dung theo sát từng chặng đường đời của tác giả. Ba tập thơ được sáng tác phần lớn là thơ luật, cận thể, hoặc cổ thể, câu thơ thất ngôn hoặc ngũ ngôn. Bài thơ thường là bát cú, đôi khi là tứ tuyệt. Một số bài được viết theo thể hành (Ký mộng, Sở kiến hành...), có bài theo thể từ (Hành lạc từ I, II...).
 
Theo thống kê của Mai Quốc Liên trong [3], Thanh Hiên thi tập gồm 67 đề mục (78 bài). Nam trung tạp ngâm gồm 27 đề mục (40 bài). Bắc hành tạp lục gồm 110 đề mục (132 bài). Với 250 bài thơ chữ Hán, Nguyễn Du đã đề cập tới nhiều đề tài khác nhau với những hình tượng nghệ thuật phong phú bằng cái nhìn đa chiều về nhân tình thế thái và bằng cảm xúc mãnh liệt của tấm lòng “nghĩ suốt ngàn đời”. Vì lẽ đó, thơ chữ Hán Nguyễn Du là “phát ngôn viên chính thức” của tâm hồn thi nhân, là “những áng văn chương nghệ thuật trác tuyệt, ẩn chứa một tiềm năng vô tận về ý nghĩa” [3,7].
 
1.1. Thanh Hiên thi tập
 
Gồm 78 bài thơ, sáng tác từ 1786 – 1804, giai đoạn từ năm Tây Sơn kéo quân ra Bắc cho đến những năm kết thúc giai đoạn Nguyễn Du làm quan ở Bắc Hà. Tập thơ chủ yếu mang tính hướng nội, ghi lại tâm sự của một con người đầy “hùng tâm”, “tráng chi” nhưng thời vận lỡ làng, đành ôm trong lòng mối u uất không cách gì giải toả được. Bao trùm tập thơ là điệp khúc buồn thương, u uẩn day dứt khôn khuây. Tập thơ được sáng tác trong 3 giai đoạn:
 
· “Mười năm gió bụi” (1786 – cuối 1795)
 
· “Dưới chân núi Hồng” (1796 – 1802)
 
· “Làm quan ở Bắc Hà” (1802 – cuối 1804)
 
1.2. Nam Trung tạp ngâm
 
Nam Trung tạp ngâm gồm 40 bài thơ, sáng tác từ năm 1805 – 1812, giai đoạn từ lúc nhà thơ được thăng hàm Đông các điện học sĩ, vào làm quan ở kinh đô Phú Xuân (gần bốn năm) đến hết thời kì làm Cai bạ dinh Quảng Bình (ba năm, năm tháng). Vẫn xuất hiện những bài thơ hướng nội, nhưng tập thơ này có thêm sự xuất hiện của những bài thơ cho thấy nỗi thất vọng về chốn quan trường. Quan trường đầy những rối ren, ganh đua, lòng người hiểm ác khiến nhà thơ của chúng ta luôn phải cẩn thận giữ gìn.
 
 1.3. Bắc hành tạp lục
 
Gồm 132 bài thơ, được sáng tác trong khoảng 1813 – 1814, khi đó Nguyễn Du được nhà Nguyễn cử làm Chánh sứ sang Trung Quốc tuế cống. Tập thơ ghi lại những điều tai nghe mắt thấy trên đường đi sứ, “mỗi một cảnh, mỗi một di tích, mỗi một con người của quá khứ và hiện tại trên đất nước Trung Hoa như xác nhận thêm một lần nữa những điều nhà thơ từng nghiền ngẫm, nung nấu” [4, 320]. Thơ tập này có thể tạm chia thành hai loại: phản ánh đời sống hiện tại, những điều tai nghe mắt thấy và loại đề vịnh lịch sử.
 
2. Về giấc mộng trong ba tập thơ chữ Hán Nguyễn Du
 
Nguyễn Du từng tự nhận thấy mình là người hay sống trong mộng mị như bạn ông từng nhận xét:
 
Tri giao quái ngã sầu đa mộng     (Ngẫu đề)
 
(Bạn bè thân thiết lấy làm lạ rằng sao ta hay sầu mộng)
 
Không phải đến Nguyễn Du người ta mới tìm thấy mộng trong văn thơ. Điều đáng nói là, trong tương quan với thế giới thực, có thể thấy mộng đã chiếm lĩnh thơ chữ Hán Nguyễn Du ở một mức độ nhất định và tạo nên một thế giới vô hình, đa tầng, lung linh đến kyì lạ. Mộng trong thơ chữ Hán Nguyễn Du theo nghĩa hẹp có thể hiểu là những giấc mộng, cơn mơ của ông; theo nghĩa rộng là toàn bộ những tưởng tượng lãng mạn, vượt ra ngoài “đường biên” thực tế của tác giả thể hiện trong sáng tác. Mộng là trải nghiệm cá nhân, mộng cũng thể hiện niềm tin tâm linh của con người.
 
Trải dài trong ba tập thơ chữ Hán Nguyễn Du, trùng điệp biết bao nhiêu giấc mộng thoắt đến rồi thoắt đi. Từ “mộng” xuất hiện đến 26 lần trong ba tập thơ chữ Hán Nguyễn Du. Có những giấc mộng được nhà thơ miêu tả lại, phác hoạ lại trong thơ một cách chi tiết như mộng hái sen, mộng gặp vợ… Có những giấc mộng chỉ được nhắc đến qua tên như mộng lấy lá chuối giấu hươu, mộng cỏ bờ ao, mộng phồn hoa… Có những giấc mơ đẹp đẽ, lãng mạn, và cũng có cả những giấc chiêm bao đầy hãi hùng.
 
Mộng đắc thái liên” có thể xem là một giấc mộng đẹp hiếm hoi trong thơ Nguyễn Du. Nhưng nó mới huyền ảo và ngắn ngủi làm sao. Nhà thơ có hẹn với cô láng giềng đi hái sen sáng sớm. Giữa lai láng nước Hồ Tây, trên chiếc thuyền con, nhân vật trữ tình hồi hộp chờ cô láng giềng. Thế mà :
 
Bất tri lai bất tri,
 
Cách hoa văn tiếu ngữ                    (Mộng đắc thái liên III)
 
(Chẳng biết đến lúc nào không biết/ Cách khóm hoa nghe tiếng cười nói)
 
Cô gái ở đâu không rõ, mà “trong nước có bóng người” – Thuỷ trung hữu nhân ảnh. Hình ảnh “cô láng giềng” hiện lên chỉ với vài nét chấm phá ít ỏi, nhưng những nét chấm phá ấy cũng thật mơ hồ. Không thấy người thật mà chỉ thấy bóng người, chỉ nghe tiếng người cười nói. Nhưng điều đáng nói là cái bóng kia lại in trên một bề mặt vô định là nước hồ. Nước sóng sánh, bóng sẽ tan biến ngay. Tiếng cười nói cách khóm hoa kia cũng không biết là xa hay là gần. Cô gái trong giấc mơ của thi nhân không được miêu tả rõ ràng mà chỉ được hình dung qua ảo ảnh đưa đến, qua âm thanh vọng lại. Tất cả đều huyền ảo và mơ hồ. Ngỡ như vén khóm hoa kia là thấy ngay cô gái nhưng cả nhà thơ và người đọc đều không tìm thấy gì. Nhà thơ khẽ khàng, nâng niu từng chút một cái “vũ trụ riêng tư” ấy. Đang ở giữa cõi mộng mà dự cảm về sự mất mát, tàn phai đã cận kề. Người đọc cũng phải theo thi nhân mà nương nhẹ từng bước, nếu đặt chân quá mạnh không gian ấy sẽ vỡ tan và biến mất. Giấc mơ của thi nhân có màu xanh non mơn mởn của lá sen, có vẻ đẹp đầy đặn của hoa sen, có hương sen thơm ngát. Tất cả đem đến một cảm giác dịu ngọt cho tâm hồn. Mộng đẹp nhưng không hé lộ hết mà cứ dẫn dắt người trong mộng tiếp tục tìm kiếm, mải miết đuổi theo những ảo ảnh, theo tiếng cười trong khóm hoa, theo bóng người dưới nước. Giấc mơ ánh lên vẻ kì diệu hư ảo. Nguyễn Du bao giờ cũng muốn nhìn sâu vào bên trong, vào chiều sâu vô hình ấy, ông muốn tìm hiểu đến tận cùng. Nhưng tất cả chỉ là hư ảo. Mộng đến với người không phải bằng chân dung hữu hình, bằng những đường nét cụ thể mà chỉ là ý niệm về một người con gái được nhìn qua lăng kính ảo ảnh mà nhà thơ gọi là “cô láng giềng”, là “người mình thương”. Sự là ảo mà tình là thật. Niềm yêu mến, quyến luyến hiển hiện rõ ràng:
 
Kì trung hữu chân ti,
 
Khiên liên bất khả đoạn      (Mộng đắc thái liên IV)
 
(Trong thân cây sen rõ có những sợi tơ/ Vấn vương không thể dứt được)
 
Tất cả đều thoắt ẩn, thoắt hiện, mong manh, khó nắm bắt vô cùng.
 
Thể thơ năm chữ với những câu thơ ngắn tựa như giấc mơ kia cũng ngắn ngủi, bất định. Nguyễn Du như muốn nối dài thêm câu chữ, nối dài thêm giấc mơ. Việc dùng nhiều thanh bằng trong bài thơ có thể xem như một cố gắng níu kéo của thi nhân. Gần đạt đến mức tuyệt đối thanh bằng, đôi câu thơ dẫn dắt hồn thơ qua điệp trùng những vang ngân không cùng. Nhờ đó giấc chiêm bao thêm thanh và thêm nhẹ, lan toả mênh mang:
 
Liên diệp hà thanh thanh,
 
Liên hoa kiều doanh doanh. (Mộng đắc thái liên V)
 
(Lá sen sao xanh xanh/ Hoa sen đẹp đầy đặn)
 
Nhưng cố gắng ấy cũng không đủ để giấc mộng ở lại với thi nhân lâu hơn. Mộng tan để lại nỗi vấn vương như tơ sen, mãi không thể dứt được.
 
Giấc mộng gặp vợ của thi nhân cũng chỉ đến và đi trong thoáng chốc. Người vợ đã khuất hiện về trong giấc chiêm bao ngắn ngủi, trong sự hình dung của sợi dây tình cảm thiêng liêng:
 
Mộng trung phân minh kiến,
 
Tầm ngã giang chi mi.
 
Nhan sắc thị trù tích,
 
Y sức đa sâm si.
 
Thỉ ngôn khổ bệnh hoạn,
 
Kế ngôn cửu biệt ly.                           (Ký mộng)
 
(Trong mộng thấy rõ ràng/ Tìm ta ở bến sông/ Nhan sắc vẫn như xưa/ Áo quần thì lếch thếch/ Thoạt đầu nói khổ vì bệnh hoạn/ Kế đó nói xa nhau lâu)
 
Người vợ của thi nhân phải đối mặt với bao hiểm nguy trên đường đi tìm chồng. Trong khoảnh khắc ngắn ngủi của giấc mộng, người vợ nào đã kịp giãi bày hết nỗi niềm bởi “nghẹn ngào khóc không nói hết câu”.
 
 Không gian giấc mơ nằm ngoài ý thức của con người – đó là không gian vô thức. Giấc mơ cũng ngổn ngang những bất an vô thức: sợ nỗi hổ báo, thuồng luồng, ngán nỗi đường đi hiểm và dữ. Mộng không đơn thuần chỉ diễn ra ở một vị trí cố định mà có sự lắp ghép giữa các vùng không gian: núi – sông – bến sông – đường đi… tạo nên cõi mộng rộng lớn, rợn ngợp. Rồi chính bản thân nhà thơ cũng ở trong trạng thái lưỡng phân, không biết mình đang ở không gian nào Trong hồn mộng là thực hay hư. Trong mộng rõ ràng là vợ mình nhưng người vợ ấy bình sinh nào có biết đường, sao nay có thể vượt núi băng sông? Tiếng khóc kia ở trong mộng ảo. Nhưng nỗi đau, nỗi nhức nhối của thi nhân là rất thật. Nhà thơ như chập chờn bất định giữa mộng và thực, giữa âm và dương. Hình bóng người vợ đã ẩn hiện xa xôi, lại còn bị che phủ bởi màu sương khói của không gian huyền ảo Phảng phất như cách nhau bức màn. Không gian sau bức màn gợi ra ấn tượng nhân ảnh ấy nửa thực nửa hư, vừa như đã có và dường như chưa hề có, vừa hiện hữu cụ thể vừa như mang mang tan loãng trong không gian. Nếu liên tưởng đến tích xưa (vua Hán Vũ Đế chiêu hồn Lí phu nhân) thì “bức màn” kia còn là ranh giới giữa hai thế giới: âm và dương, cõi trần gian và cõi vĩnh hằng. Cái phảng phất, mập mờ ấy khiến nhà thơ bối rối “Trong hồn mộng là thực hay hư”
 
Giấc mộng gặp anh cũng đầy trắc trở. Xa cách lâu ngày nhưng biết có gặp được anh trong mộng:
 
Nhất biệt bất tri hà xứ trú,
 
Trùng phùng đương tác tái sinh khan.
 
Hải thiên mang diểu thiên dư lí,
 
Thần phách tương cầu mộng diệc nan.       (Ức gia huynh)
 
(Một lần từ biệt, nay không biết ở nơi nào?/ Gặp lại nhau, hẳn phải đợi kiếp sau/ Trời biển mênh mang, đường xa nghìn dặm/ Hồn phách tìm nhau trong mộng cũng khó)
 
Anh em cách xa nghìn dặm, vắng tin tức nhau nhưng không lúc nào Nguyễn Du nguôi tưởng nhớ. Giấc mộng đến trong niềm mong nhớ da diết nhưng dẫu là trong mộng, hồn phách hai anh em cũng khó tìm nhau. Mộng đã ngắn ngủi lại cũng không trọn vẹn, chẳng giúp thi nhân thoả lòng mong nhớ. Mong đợi ngày trùng phùng nhưng thi nhân cũng tự hiểu ngày đó còn xa lắm, mênh mông góc bể chân trời, chắc phải đợi đến kiếp sau.
 
Không chỉ dừng lại ở những giấc mộng, hồn mộng Nguyễn Du cũng có những vận động trong thế giới tâm linh đầy hư ảo. Bằng chứng là, đêm đêm hồn mộng Nguyễn Du vẫn tìm đến thơ Đỗ Phủ như một sự tri âm, chia sẻ:
 
Mộng hồn dạ nhập Thiếu Lăng thi
 
(Y nguyên vận ký Thanh Oai Ngô Tứ Nguyên)
 
(Hồn mộng tôi đêm đêm nhập vào thơ Đỗ Thiếu Lăng)
 
Dân gian quan niệm khi người ngủ là linh hồn xuất đi. Trong khoảng thời gian đó hồn đi đến nhiều nơi. Khi người thức giấc cũng là lúc linh hồn trở về nhập vào thể xác. Ở đây hồn Nguyễn Du nhập vào thơ của bậc thầy văn chương mà mình hằng khâm phục! Quả là điều xưa nay chưa từng thấy! Mối đồng cảm Nguyễn Du dành cho Đỗ Thiếu Lăng đã xoá nhoà sự khác nhau về tuổi tác, thời đại, cũng xoá nhoà cả ranh giới âm – dương cách biệt. Nguyễn Du còn thủ thỉ, ân cần dặn dò hương hồn Đỗ Phủ nơi chín suối:
 
Trạo đầu cựu chứng y thuyên vị?
 
Địa hạ vô linh quỷ bối xi.               (Lỗi Dương Đỗ Thiếu Lăng mộ I)
 
(Chứng lắc đầu cũ đã chửa khỏi được chưa?/ Dưới đất đừng để cho lũ ma quỷ cười mình.)
 
Những ảo ảnh, những hình dung tưởng tượng càng làm phong phú thêm thế giới hư ảo trong thơ chữ Hán Nguyễn Du. Đó là khi mộng hòa vào thực, Nguyễn Du nhìn thấy bóng Dự Nhượng bên cầu năm nào:
 
Lộ kinh Tam Tấn giai khâu thổ,
 
Chú mục kiều biên như hữu đổ.        (Dự Nhượng chuỷ thủ hành)
 
(Đường qua Tam Tấn toàn là gò bãi/ Mắt chăm chú nhìn bên cầu dường như thấy bóng ông (Dự Nhượng)
 
Đó là khi Nguyễn Du lắng nghe được những âm thanh mơ hồ từ cõi âm, tưởng tượng trong gió mưa gầm thét chừng như đó là tiếng la thét của Hạng Vũ năm xưa:
 
Phong vũ do văn sất sá thanh        (Sở Bá Vương mộ II)
 
(Trong gió mưa còn nghe như tiếng la thét)
 
Những giấc mộng và những hình dung, tưởng tượng tương tự như thế đưa thi nhân đến với nhiều không gian hư ảo khác nhau. Kia là dãy non Hồng quen thuộc nơi quê nhà: “Hơn một năm qua, chỉ mộng mị suông về dải non Hồng” (Nhiếp khẩu đạo trung), Trong mơ núi Hồng vắng những cuộc đi săn” (Hồng Lĩnh mộng trung). Kia lại là nơi chốn nào hoàn toàn lạ lẫm, là mồ mã, tha ma, nghĩa địa (Lỗi Dương Đỗ Thiếu Lăng mộ, Nhạc Vũ Mục mộ, Tỉ Can mộ…). Trong mộng ảo, mọi hình ảnh đều nhoè đi, các đường nét đều trở nên huyền hồ hư ảo, cả thế giới dường như cũng ngả nghiêng trong cơn mộng của thi nhân: Chính lúc bồi hồi nhớ đến đêm nao ở non Hồng/ Thì mình lại đang ở bến sông La Phù (Sơ nguyệt). Trong mộng, Nguyễn Du gặp người quen lẫn người chưa quen; người còn sống lẫn người đã chết; người cùng thời và cả người sống cách Nguyễn Du hàng bao thế kỉ. Bút thơ thi nhân đưa ta đến với những miền không gian diệu vợi, vô biên, chấp chới giữa thực và mộng… Tất cả làm nên một thế giới hư huyền vừa quen thuộc, vừa xa lạ.
 
Sắc màu của mộng cũng biến hoá, hư ảo lạ thường. Gam màu sáng và ấm áp của ngọn đèn ngày trùng phùng vừa nhen lên đã vội bị thay thế bằng gam màu tối và lạnh lẽo của nỗi cô đơn: Mộng đến, ngọn đèn cô đơn sáng leo lét/ Mộng tàn, gió lạnh thổi (Ký mộng). Sắc đỏ của rừng phong vào thu nhắc nhở người chinh nhân rằng dải non Hồng xanh biếc kia chỉ là mộng mị suông mà thôi (Nhiếp khẩu đạo trung) … Mập mờ ảo thực, các vùng không gian mộng tưởng phảng phất sau bức màn, bảng lảng trong khói mây, tít tắp nơi góc bể chân trời. Không gian mộng tưởng ấy hiện ra trong trạng thái nửa thức, nửa ngủ: khi mơ màng, lúc tàn canh, khi gần sáng hay lúc vừa chợp mắt. Mộng nối mộng, bất chấp cả thời gian:
 
Đêm thì:
 
Mộng hồn dạ nhập Thiếu Lăng thi
 
(Y nguyên vận ký Thanh Oai Ngô Tứ Nguyên)
 
(Hồn mộng tôi đêm đêm nhập vào thơ Đỗ Thiếu Lăng)
 
Gần sáng thì:
 
Ngũ canh tàn mộng tục hương quan. (Thuỷ liên đạo trung tảo hành)
 
(Trong giấc mộng tàn canh nằm vẫn còn mơ về quê hương)
 
Ngay cả ban trưa thi nhân cũng mộng:
 
Ngọ mộng tỉnh lai vãn                                 (Sơn Đường dạ bạc)
 
(Tỉnh giấc mộng trưa trời đã muộn)
 
Hay:
 
Ngọ song vô mộng đáo thiên nha (nhai)   (Tống Nguyễn Sĩ Hữu nam quy)
 
(Trong giấc ngủ trưa bên song cửa hồn mộng không còn đến chân trời)
 
Xuất hiện nhiều nhất là bối cảnh “đêm tối”. “Đêm tối” vừa là thời gian mộng, vừa là không gian mộng. Đêm là khoảng thời gian yên tĩnh để chiêm nghiệm:
 
Hoang giao tĩnh dạ loạn phi huỳnh                      (Vị Hoàng doanh)
 
(Giữa cánh đồng hoang, đêm vắng, đom đóm bay tứ tung)
 
Bạch địa đình trì dạ sắc không,                             (Ngẫu đề)
 
(Sân thềm trống trơn, màn đêm tĩnh lặng)
 
Quan tâm nhất dạ khổ vô thụy,                              (Thăng Long I)
 
(Suốt đêm bận lòng khổ tâm không ngủ được)
 
Vô hạn thương tâm nhất dạ trung.                        (Sơ thu cảm hứng)
 
(Trong một đêm xiết bao nỗi đau lòng)
 
Tịch liêu kim dạ vọng,                                          (Tương Âm dạ)
 
(Đêm nay vời trông khung cảnh hiu quạnh)
 
Chung dạ bồi hồi tứ chuyển mê.                            (Ngẫu hứng I)
 
(Suốt đêm bồi hồi, nghĩ ngợi mê man)
 
Nếu như ban ngày Nguyễn Du sống với tư cách là con người công dân với bổn phận, trách nhiệm thì ban đêm ông lại trở về với con người cá nhân của mình, với những nỗi niềm, những thao thức rất riêng. Hầu như những hoạt động tâm linh của chủ thể trữ tình đều diễn ra trong đêm tối. Bóng đêm bao trùm, dường như vạn vật đều chìm vào tĩnh lặng nhường chỗ cho những mộng mị hư ảo, cả cho những cuộc đàm luận với người chết. Chỉ khi đêm xuống, Nguyễn Du mới có cơ hội tìm gặp những người thân thương dẫu bằng đôi cánh ảo mộng, hoặc tìm lại chính mình, đối diện với lòng mình. Hiện diện trong những đêm cô tịch như thế còn có cả những “bóng ma”:
 
Hàn đăng lưu quỷ ảnh                       (Quế Lâm công quán)
 
(Ngọn đèn lạnh như lưu lại bóng ma)
 
Hoặc:
U thất thu hàn hiện quỷ lân              (Giản Công bộ Thiêm sự Trần II)
 
(Ngôi nhà tối mùa thu lạnh sẽ hiện đom đóm ma)
 
Trong đêm tối, Nguyễn Du thường tự thu mình lại với cái bóng của chính mình. “Bóng” là hình ảnh do phản chiếu mà có; hiểu theo nghĩa sâu hơn là “bóng vía” – yếu tố vô hình tồn tại trong con người, tạo ra sức mạnh, sức sống về tinh thần theo quan niệm duy tâm. Người Việt thường coi trọng cái bóng của mình, luôn có ý thức gìn giữ bóng, sợ vô tình giẫm đạp hoặc chặt chém lên bóng. Với Nguyễn Du cũng vậy, cái bóng thiêng liêng còn là người bạn tâm tình cùng ông mỗi lúc đêm về:
 
Trù trướng thâm tiêu cô đối ảnh,
 
Mãn sàng trệ vũ bất kham thinh.               (Tống nhân)
 
(Trong đêm khuya cô tịch buồn rầu một mình đối bóng/ Nghe mưa dầm đầy giường không sao chịu nổi)
 
Trong đêm vắng, Nguyễn Du trầm ngâm:
 
Bồi hồi đối ảnh độc vô ngữ,
 
Bạch phát sổ hành thuỳ ngã khâm.   (La Phù giang thuỷ các độc toạ)
 
(Bồi hồi trước bóng mình một mình yên lặng/ Mấy sợi tóc bạc rủ xuống vạt áo)
 
Bóng là ảo. Nhưng nó tồn tại thực. Bóng chính là người bạn chung thuỷ nhất với con người. Nhưng cái bóng ấy có bao giờ lên tiếng. Bóng lẻ. Bóng lặng im. Bóng là sự phân thân của con người, cũng là một phần linh hồn con người. Trong trường hợp này, bóng trở thành một đối tượng khác độc lập ở trong tư thế đối diện với Nguyễn Du. Bóng như một cái Ta khác, đối diện với hình. Mà hình hài ấy nay đã bạc tóc, già nua cùng những thăng trầm thời gian. “Ta và mình”, tuy hai mà một, tuy một mà hai. Vậy nên có những đêm, Nguyễn Du “tự ngữ đáo thiên minh” – Mình nói chuyện với mình mãi cho đến sáng (Quế Lâm công quán). Bóng và người hội ngộ nhưng không có một phát ngôn nào. Phải chăng đang có một cuộc đối thoại ngầm giữa bóng với hình, giữa Nguyễn Du – con người bằng xương bằng thịt và bóng – chiếc vỏ của linh hồn? Đối diện với bóng, Nguyễn Du đối diện với những trách móc, cật vấn từ sâu trong tiềm thức. Thế nên “đối ảnh”, nhà thơ mới “bồi hồi” (La Phù giang thuỷ các độc toạ) 
 
Nhắc nhiều đến mộng, Nguyễn Du bày tỏ một nhân sinh quan đậm màu sắc Lão Trang, xem kiếp sống như một trò mộng huyễnNam Hoa Kinh chép rằng: “Có người nằm mộng thấy được uống rượu ăn tiệc, tỉnh dậy tiếc mà khóc; lại có người nằm mộng thấy mình khóc rồi thức dậy vui như đi săn. Mà hai hạng người đó trong khi nằm mộng không biết rằng mình nằm mộng, đôi khi nằm mộng thấy rằng mình nằm mộng, tới khi tỉnh mới biết rằng mình nằm mộng. Và chỉ khi nào đại giác (tỉnh lớn) mới biết rằng đã qua một “đại mộng” (giấc mộng lớn)” (3). Quan niệm “Xử thế nhược đại mộng” (Sống ở đời như một giấc mộng lớn) (Lý Bạch) hay “Nhân gian như mộng” là vậy. Từ cõi nhân gian – cuộc sống đời thường đến miền tâm tưởng – những giấc mơ, nỗi ám ảnh về hư vô cuộc đời nơi nhà thơ càng hiện rõ:
 
Bách tuế vi nhân bi thuấn tức,
 
Mộ niên hành lạc tích tu du.          (Mạn hứng)
 
(Cuộc đời trăm năm thương thay chỉ là chớp mắt/ Cuộc vui chơi lúc tuổi già, tiếc chỉ là thoáng chốc).
 
Với Nguyễn Du, kiếp sống con người quả thật ngắn ngủi, đổi thay chóng vánh, hư ảo khôn lường: “Sáng và chiều đổi thay theo bóng mây trôi lờ lững; Xưa và nay lênh đênh như hoa sóng cuồn cuộn” (La Phù giang thuỷ các độc toạ). Trong miền hư ảo – giấc mộng đời ấy, con người chỉ như một người khách trọ, thoắt đến, thoắt đi. Mỗi người đóng một vai trong giấc mộng của chính mình và trong giấc mộng của người khác nữa.Thế nên trong thơ, chẳng lạ gì khi Nguyễn Du luôn nhận mình là “hành nhân”, “chinh nhân”, “du tử”, “du khách”, “chinh khách”, “trệ khách”...
 
Trên đây là đôi điều suy nghĩ về thơ chữ Hán Nguyễn Du. Tồn tại như một giá trị nghệ thuật quý giá, những giấc mộng trong thơ chữ Hán Nguyễn Du mở ra cho người đọc một “kênh giao tiếp” mới (cõi mộng – cõi tâm linh) để hiểu và cảm sâu hơn tấm lòng thi nhân, để một lần nữa khẳng định vị trí của ba tập thơ chữ Hán – khối trầm tích lớn trong sự ngiệp sáng tác của Nguyễn Du. Việc khảo sát thơ chữ Hán Nguyễn Du ở góc độ này hoàn toàn cho phép người nghiên cứu tiếp cận sâu hơn ý nghĩa nhân văn sâu sắc của thi phẩm Nguyễn Du – đó là nỗi niềm nhân sinh đầy trắc ẩn về vấn đề ý nghĩa của cuộc sống, về giá trị tinh thần của con người. Vẫn còn đó nhiều vấn đề cần nghiên cứu sâu hơn, tập trung và hệ thống hơn về thơ chữ Hán Nguyễn Du. Hướng nghiên cứu về văn hóa – tâm linh phải chăng cũng nên được xem xét một cách nghiêm túc.
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
 
1. Nguyễn Đăng Duy (2002), Văn hoá tâm linh, NXB Văn hoá thông tin.
 
2. Nguyễn Hiến Lê (chú dịch và giới thiệu) (1994), Trang Tử – Nam Hoa Kinh, NXB Văn hoá, TP. Hồ Chí Minh.
 
3.   Mai Quốc Liên, Nguyễn Quảng Tuân, Ngô Linh Ngọc, Lê Thu Yến (1996), Nguyễn Du toàn tập, NXB Văn học, TP. Hồ Chí Minh.
 
4. Nguyễn Lộc (2004), Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX, NXB Giáo dục, tái bản lần thứ 5.
 
5. Nguyễn Hữu Sơn (và nhiều tác giả) (1998), Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam, NXB Giáo dục.
 
6. Trần Đình Sử (2005), Thi pháp văn học trung đại Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
 
7. Trần Nho Thìn (2008), Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hoá, NXB Giáo dục, Huế.
 
 
Theo Ths Ngô Thị Thanh Vân/Khoa Ngữ văn - ĐHSP Hà Nội
 

Nghiên cứu thảo luận

Tham quan ảo 3D

Thư viện phim tư liệu

Bộ đếm lượt truy cập

di tich Nguyen Du

Liên kết Website